- Chủ đề Author
- #1
Sau đúng 400 năm hạt giống Tin mừng được gieo xuống trên quê hương Việt Nam năm 1533, ngày 11/6/1933, Đức Thánh cha Piô XI đã đặt tay phong chức Giám mục cho cha G.B. Nguyễn Bá Tòng làm giám mục người Việt tiên khởi ngay tại nhà thờ thánh Phêrô, Roma.
Trong khoảng 12 năm sau đó, mặc dù chiến tranh, Tòa thánh cũng kịp thời phong chức Giám mục cho thêm 4 vị Giám mục người Việt nữa, gồm các Đức Cha: Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn (1935), Đức Cha Phêrô Martinô Ngô Đình Thục (1938), Đức cha Gioan Maria Phan Đình Phùng (1940) và đức cha Tađêo Lê Hữu Từ (1945).
Các ngài được Tòa thánh, mà đại diện là các Đức Khâm sứ, cùng các đức giám mục đại diện Tông tòa các giáo phận liên hệ, tìm khắp đất nước với một qui trình chặt chẽ, tính bảo mật cao, hoàn toàn không chấp nhận hoặc chịu áp lực từ chính quyền thuộc địa.
Các ngài là các linh mục xuất sắc nhất tại Việt Nam thời đó. Đức cha Tòng, từ Sài Gòn ra Phát Diệm; đức cha Cẩn từ Huế ra Bùi Chu; đức cha Thục từ Huế vào Vĩnh Long…
Điều dễ nhận thấy, ngoại trừ đức cha Phêrô Martinô Ngô Đình Thục như được "tiền định làm giám mục từ ban đầu" với 3 bằng tiến sĩ, các đức giám mục còn lại không ai có bằng cấp gì.
Các ngài được Tòa thánh, mà đại diện là các Đức Khâm sứ, cùng các đức giám mục đại diện Tông tòa các giáo phận liên hệ, tìm khắp đất nước với một qui trình chặt chẽ, tính bảo mật cao, hoàn toàn không chấp nhận hoặc chịu áp lực từ chính quyền thuộc địa.
Các ngài là các linh mục xuất sắc nhất tại Việt Nam thời đó. Đức cha Tòng, từ Sài Gòn ra Phát Diệm; đức cha Cẩn từ Huế ra Bùi Chu; đức cha Thục từ Huế vào Vĩnh Long…
Điều dễ nhận thấy, ngoại trừ đức cha Phêrô Martinô Ngô Đình Thục như được "tiền định làm giám mục từ ban đầu" với 3 bằng tiến sĩ, các đức giám mục còn lại không ai có bằng cấp gì.
Hà Nội đón Đức cha Cẩn năm 1935
Không biết có phải vì vậy, mà các ngài không mất quá nhiều năng lực để chỉ lo bảo vệ "thanh danh của tôi", nhưng toàn tâm lo cho giáo phận, cho tiền đồ của Giáo hội, nhất là cố gắng để không làm mất thanh danh của Giáo hội Chúa Kitô ở Việt Nam?
Thật vậy, vào thời điểm tế nhị nhưng đầy khó khăn của Giáo hội, khi đất nước vừa thoát ách thực dân, cần tiếng nói chính thức của Giáo hội, ngày 23/9/1945, Đức cha G.B. Nguyễn Bá Tòng, niên trưởng của các giám mục Việt Nam, đại diện cho các đức cha Cẩn, Thục, Từ, viết thư cho đức giáo hoàng Piô XII, xin ngài ủng hộ nền độc lập:
"Dân tộc Việt Nam chúng con qua sự trung gian của 4 giám mục xin đệ đến Đức thánh cha lòng thành kính sâu xa và xin Đức thánh cha chúc phúc, cầu nguyện cho nền độc lập mà dân tộc chúng con mới thu hồi được và đang sẵn sàng bảo vệ bằng bất cứ giá nào.
Các giám mục Việt Nam khẩn nài Đức thánh cha, Tòa thánh La Mã, các Đức hồng y, các Đức tổng Giám mục, các Đức giám mục và toàn thể Kitô hữu khắp thế giới, nhất là nước Pháp ủng hộ nền độc lập tổ quốc yêu quí của chúng con". (Đoàn Độc Thư - Xuân Huy, Giám mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm (1945 – 1954) – Những năm tranh đấu hào hùng, Sử liệu hiện đại 1973, 37; Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo sử, Q. II, Cứu Thế Tùng Thư 1962, 56)
Ngày 4/11/1945, các ngài còn ký chung một bức thư nữa, gửi đến "các tín hữu trên khắp thế giới, đặc biệt người dân Mỹ và Anh".
Đức cha Ngô Đình Thục và các anh chị em trong gia đình
Các lá thư này khẳng định sự ủng hộ của các giám mục Việt Nam với nền độc lập dân tộc và kêu gọi nhân dân thế giới tôn trọng ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Các lá thư còn được phát sóng trên đài phát thanh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và được phổ biến dưới dạng truyền đơn khắp lãnh thổ Việt Nam. (Charles Keith, Công Giáo Việt Nam – Từ Đế chế đến Quốc gia, Phạm Nguyên Trường dịch, Người Việt Books, 2016, 570 – 571)
Mặc dù, sự ủng hộ của mỗi vị đối với nền độc lập dân tộc khác nhau – Đức cha Tòng và đức cha Cẩn, 2 người già nhất, ít chính trị nhất, đức cha Thục, một người được cho là theo chủ nghĩa dân tộc hay đức cha Từ, còn chưa chịu chức giám mục, nhưng việc các ngài ký chung những lá thư bày tỏ sự ủng hộ đối với nền độc lập, không chỉ cho thấy tinh thần hiệp hành mà còn cho thấy tình yêu quê hương đất nước đậm đà, tình yêu đồng bào được diễn tả cụ thể với một lập trường chính trị mạnh mẽ.
Đức cha Lê Hữu Từ và Đức cha Phạm ngọc Chi
Tinh thần hiệp hành này còn được thể hiện rõ trong các chia sẻ mục vụ, các kỳ thăm viếng giữa các giáo phận. Sau khi đức cha Cẩn được phong chức, vì 2 giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm gần nhau, nên các ngài thường đến thăm các trường công giáo, các chủng viện của nhau. Ngay cả trong những chuyến viếng thăm các giáo phận khác, người ta đều thấy sự xuất hiện cùng nhau của các ngài. Năm 1935, giáo phận Hải Phòng đã mời cả 2 đức giám mục viếng thăm, tuy nhiên, cuộc thăm viếng đã bị chính quyền thực dân cản trở, vì cuộc viếng thăm "mang một tinh thần độc lập công khai".
Cuộc tấn phong đức Giám mục Thục sau đó vào năm 1938 và các chuyến viếng thăm của ngài tại miền Bắc năm 1940 cùng với 2 đức cha Cẩn, Tòng, không chỉ gây ảnh hưởng lớn trên tinh thần người giáo dân về tinh thần yêu nước, bảo vệ chủ quyền, mà quan trọng cho thấy, một giáo hội hiệp hành, đồng hành cùng dân tộc trong mọi thời khắc của lịch sử.
Giáo hội Việt Nam đang chuẩn bị mừng kỷ niệm 500 năm hạt giống Tin mừng được gieo trên quê hương Việt Nam, kỷ niệm 100 người công giáo Việt có vị giám mục người Việt tiên khởi, nhất là đang bước vào tiến trình sống tinh thần hiệp hành, đời sống, chọn lựa của 5 đức giám mục người Việt tiên khởi có thể gợi ý gì cho Giáo hội, nhất là cho các đức Giám mục thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam hôm nay?
Cùng chủ đề
