- Chủ đề Author
- #1
Sáng ngày 27 tháng 4 năm 1967, trên các ngả đường Thủ đô Sài gòn dẫn về Vương cung Thánh đường, khung cảnh giao thông trở nên đông đảo khác thường vì có thêm số lượng đoàn người và xe pháo từ nhiều nơi đổ về tham dự Thánh lễ an táng Giám mục Tađêô Lê Hữu Từ.
Giám mục Tađêô Lê Hữu Từ là vị giám mục thứ năm trên danh sách những vị chủ chăn bản xứ đầu tiên của Công giáo Việt Nam theo thứ tự: Giám mục Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng (11/6/1933), Đaminh Maria Hồ Ngọc Cẩn (29/6/1935), Phêrô Mactinô Ngô Đình Thục (04/5/1938), Gioan Maria Phan Đình Phùng (03/12/1940) và Giám mục Tađêô Lê Hữu Từ (29/10/1945).
Đức cha Lê Hữu Từ
Đây là vị giám mục thời danh nhất trong cả hai lãnh vực truyền giáo của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng và đối với lịch sử đấu tranh của dân tộc, đã cùng chống cả hai chủ nghĩa thực dân lẫn cộng sản, bằng tinh thần của một sĩ phu Việt Nam đúng nghĩa ưu thời mẫn thế, vào tiền bán thế kỷ 20.
Thành vậy, trong đoàn người đông đầy tìm về tham dự nghi thức tiễn đưa cố giám mục Tađêô Lê Hữu Từ, đã không chỉ là giáo dân, là con chiên bổn đạo của khối công dân Công giáo, mà còn là những đồng bào của ông không nhất thiết thuộc tôn giáo nào đến hiệp thông với sự mất mát của Giáo hội Việt Nam là một lẽ, mà còn là kính viếng và hồi tưởng lại ký ức gian nan của từng người đã một thời nhờ ảnh hưởng của ông mà qua được hoạn nạn giữa những chông gai của đất nước. Tất cả vẫn còn đậm nét trong tâm khảm mỗi người về phong cách một môn đệ tín trung với ơn gọi thiêng liêng đời tận hiến, một chủ chăn luôn nặng mang hai chữ “quốc gia” mà thuỷ chung phục vụ Thiên Chúa và Tổ quốc Deus et Patria và một sĩ phu Việt Nam ái quốc, cương trực.
Thật là rất hiếm dịp được chứng kiến một đám tang nào có số lượng người đi tiễn đưa đông như thế khi không phải là công hầu khanh tướng của thế gian.
Giữa những bộ tang phục của thân nhân theo huyết tộc hay trang trọng theo liên hệ linh tông, những vành khăn trắng dành kính một bậc thầy, một bậc trưởng thượng chân tu khả kính, còn là những chân tình tha thiết tiếc thương một nhà lãnh đạo tinh thần đúng mực tâm linh và trên hết, một người anh em Việt Nam chân chính đúng nghĩa cùng chung nguồn từ bọc trăm trứng Rồng Tiên.
Linh cữu của cố giám mục Lê Hữu Từ được quàn hai ngày tại nhà hưu dưỡng Phát diệm ở Xóm Mới, Gò vấp. Sau đó được chuyển đến Vương cung Thánh đường Sài gòn. Thánh lễ an táng được cử hành ngày 27 tháng 4 năm 1967, do Tổng giám mục Sài gòn Phaolô Nguyễn Văn Bình chủ tế, Giám mục Phạm Ngọc Chi đồng tế cùng phần vụ đọc điếu văn truy điệu và số đông các linh mục. Phía Chính quyền, có Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu - Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ - Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, các thành phần chức sắc các tôn giáo và các đoàn thể…
Sau thánh lễ, linh cữu giám mục Lê Hữu Từ được rước về an táng tại An dưỡng viện Phát diệm ở Xóm Mới, Gò vấp, vùi sâu chôn chặt một thân phận thụ tạo của kiếp người. Song những hành sự trên lộ trình 71 năm tại thế của con người phong phú và đa dạng này lại không vĩnh viễn khép lại, mà bắt đầu mở ra như một tổng hợp về một mục tử tín trung với ơn gọi thiêng liêng của đời tận hiến, một sĩ phu nhà đạo Việt Nam thuỷ chung với Thiên Chúa và Tổ quốc và một nhà lãnh đạo tinh thần cương trực có ảnh hưởng rất lớn trong cuộc chiến tranh giữa các ý thức hệ Quốc gia, phong kiến, thực dân, cộng sản và tư bản tại Việt Nam giai đoạn 1945-1954.
Thành vậy, trong đoàn người đông đầy tìm về tham dự nghi thức tiễn đưa cố giám mục Tađêô Lê Hữu Từ, đã không chỉ là giáo dân, là con chiên bổn đạo của khối công dân Công giáo, mà còn là những đồng bào của ông không nhất thiết thuộc tôn giáo nào đến hiệp thông với sự mất mát của Giáo hội Việt Nam là một lẽ, mà còn là kính viếng và hồi tưởng lại ký ức gian nan của từng người đã một thời nhờ ảnh hưởng của ông mà qua được hoạn nạn giữa những chông gai của đất nước. Tất cả vẫn còn đậm nét trong tâm khảm mỗi người về phong cách một môn đệ tín trung với ơn gọi thiêng liêng đời tận hiến, một chủ chăn luôn nặng mang hai chữ “quốc gia” mà thuỷ chung phục vụ Thiên Chúa và Tổ quốc Deus et Patria và một sĩ phu Việt Nam ái quốc, cương trực.
Thật là rất hiếm dịp được chứng kiến một đám tang nào có số lượng người đi tiễn đưa đông như thế khi không phải là công hầu khanh tướng của thế gian.
Giữa những bộ tang phục của thân nhân theo huyết tộc hay trang trọng theo liên hệ linh tông, những vành khăn trắng dành kính một bậc thầy, một bậc trưởng thượng chân tu khả kính, còn là những chân tình tha thiết tiếc thương một nhà lãnh đạo tinh thần đúng mực tâm linh và trên hết, một người anh em Việt Nam chân chính đúng nghĩa cùng chung nguồn từ bọc trăm trứng Rồng Tiên.
Linh cữu của cố giám mục Lê Hữu Từ được quàn hai ngày tại nhà hưu dưỡng Phát diệm ở Xóm Mới, Gò vấp. Sau đó được chuyển đến Vương cung Thánh đường Sài gòn. Thánh lễ an táng được cử hành ngày 27 tháng 4 năm 1967, do Tổng giám mục Sài gòn Phaolô Nguyễn Văn Bình chủ tế, Giám mục Phạm Ngọc Chi đồng tế cùng phần vụ đọc điếu văn truy điệu và số đông các linh mục. Phía Chính quyền, có Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu - Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ - Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, các thành phần chức sắc các tôn giáo và các đoàn thể…
Sau thánh lễ, linh cữu giám mục Lê Hữu Từ được rước về an táng tại An dưỡng viện Phát diệm ở Xóm Mới, Gò vấp, vùi sâu chôn chặt một thân phận thụ tạo của kiếp người. Song những hành sự trên lộ trình 71 năm tại thế của con người phong phú và đa dạng này lại không vĩnh viễn khép lại, mà bắt đầu mở ra như một tổng hợp về một mục tử tín trung với ơn gọi thiêng liêng của đời tận hiến, một sĩ phu nhà đạo Việt Nam thuỷ chung với Thiên Chúa và Tổ quốc và một nhà lãnh đạo tinh thần cương trực có ảnh hưởng rất lớn trong cuộc chiến tranh giữa các ý thức hệ Quốc gia, phong kiến, thực dân, cộng sản và tư bản tại Việt Nam giai đoạn 1945-1954.
Yết kiến đức Pio XII
I. Một môn đệ tín trung với ơn gọi thiêng liêng
1. Thân thế
Giám mục Lê Hữu Từ sinh ngày 28/10/1896 (cũng có tài liệu ghi là 27/10/1897) tại Di loan, huyện Vĩnh linh, tỉnh Quảng trị, trùng vào ngày lễ kính thánh Tông đồ Tađêô (Thaddeus) nên đã được chọn để làm thánh bổn mạng gắn liền vào một thân phận thụ tạo mới ra đời mang tên Lê Hữu Từ. Thân phụ là ông Lê Hữu Ý và thân mẫu là bà Trần Thị Dưỡng. Hai ông bà sinh hạ được mười người con gồm bảy trai và ba gái, theo thứ tự như sau:
- Phêrô Lê Hữu Nguyện
- Đôminicô Lê Hữu Luyến, linh mục
- Tađêô Lê Hữu Từ, linh mục và giám mục Phát diệm
- Madalêna Lê Thị Dũ, nữ tu Dòng Phú xuân Huế
- Phêrô Lê Hữu Niệm
- Giuse Lê Hữu Huệ, linh mục
- Giuse Lê Hữu Tuệ
- Anna Lê Thị Ẩn, nữ tu Dòng Phú xuân, Huế
- Phêrô Lê Hữu Hiến
- Ysave Lê Thị Ứng, nữ tu dòng Phú xuân, Huế.
2. Hành trình sứ vụ
- Ngày 01/9/1911, khởi đầu con đường tu học tại Tiểu chủng viện An ninh, Cửa Tùng, Quảng trị.
- Ngày 01/9/1921 nhập Đại chủng viện Phú xuân, Huế.
- Ngày 18/12/1926 nhận chức Phó tế tại nhà thờ Phủ Cam, Huế. Nhưng sau khi nhận chức, phó tế Lê Hữu Từ lại chuyển hướng theo đời tu khổ hạnh, chọn gia nhập dòng Xitô Phước sơn tại Quảng trị.
- Ngày 15/9/1928, nhận áo thỉnh sinh của dòng Xitô Phước sơn.
- Ngày 08/12/1928, chính thức mặc áo nhà Tập của đan viện Xitô.
- Ngày 22/12/1928, đang khi là tập sinh tại Xitô Phước sơn lại được giáo phận Huế gọi về cho thụ phong linh mục.
- Ngày 25/12/1929, chính thức tuyên khấn, trở thành tu sĩ dòng Xitô với tên thánh Anselmo, một giám mục thuộc dòng Biển đức thời Trung cổ.
- Từ đây, đan sĩ Anselmô đã lên đường tìm gặp Thiên Chúa bằng nếp sống khắc khổ qua lao động và cầu nguyện trong thinh lặng, Ora et Labora.
- Năm 1931, phụ trách Nhà Tập và hướng dẫn các đan sĩ trẻ
- Ngày 25/7/1933, được chọn làm Đan viện phó, khi vị sáng lập dòng khổ tu Phước sơn, Henri Denis Benoit, qua đời và Phước sơn được sáp nhập vào Dòng Mẹ Xitô.
- Ngày 20/8/1933, khấn trọn đời.
- Ngày 12/7/1936, đuợc Hội dòng Phước sơn bầu chọn làm Bề trên tiên khởi cho đan viện mới lập tại Châu sơn ở Miền Bắc, thuộc giáo phận Phát diệm.
Đức cha Từ và các giám mục họp hội nghị Đông Dương, Hà Nội 1951
Linh mục Lê Hữu Từ, khi đang là phó Bề trên ở Phước sơn, đã tình nguyện cùng mười hai đan sĩ đi Nho quan lập nhà mới trên một vùng chỉ toàn là bụi đất hoang tàn với chi tiết được ghi lại rằng hành trang của đoàn chỉ vỏn vẹn một cây Thánh giá gỗ, một cỗ tràng hạt và 12 đồng bạc Việt Nam thời đó; và trên hết là một niềm tin mạnh mẽ nơi từng người muốn dùng chính cuộc đời mình để diễn tả mầu nhiệm Đức Kitô.
Ngày 05/09/1936, cùng mười hai đan sĩ Phước sơn đặt chân đến vùng đất mới Châu sơn.
Ngày 08/9/1936, chính thức làm Bề trên Dòng Xitô Châu sơn. Khu đất để gầy dựng dòng khổ tu Châu sơn vào thời điểm này vốn là khu đồn điền của một người Pháp, đã bỏ hoang lâu ngày. Vì đã sẵn tâm nguyện mong muốn có một đan viện trong phạm vi giáo phận Phát diệm nên giám mục Nguyễn Bá Tòng đã mua lại khu đồn điền hoang phế này cùng luôn cả vùng đất chung quanh, rồi liên lạc xin Bề trên Dòng Xitô Phước sơn cho lập thêm một chi nhánh của Dòng tại địa phận Phát diệm.
Và một đan viện mới mang tên Châu sơn được hình thành.
Những năm đầu ở Châu sơn đúng là gập ghềnh sỏi đá, không xa với cách nói “khai sơn phá thạch” của người xưa bao nhiêu. Mười ba nhà ẩn tu như lạc vào hoang địa đầy lam sơn chướng khí, làm bạn với muỗi rừng và chống chọi với căn bệnh sốt rét ngã nước trong khu đồn điền bỏ hoang, chung quanh là rừng cây núi đá vây bọc, thích hợp cho rắn rết hùm beo hơn là con người. Để vượt qua khó khăn ban đầu này, mười ba anh em đan sĩ miệt mài cuộc đời tận hiến với cầu nguyện là sức sống và nỗ lực lao động là phương châm, cho dù cuộc sống vật chất luôn trong tình trạng thiếu hụt, có đủ cả đói khổ và bệnh tật. Đan viện trưởng Lê Hữu Từ, hơn ai hết, hăng say đẽo đá, cuốc đất cào sỏi, phá rừng làm nương rẫy, không màng mọi sự cực nhọc, từng ngày cặm cụi kiên nhẫn lao động. Chính vì vậy mà không ai nản lòng vì Bề trên của họ luôn là một tấm gương, một chứng nhân của đời sống khổ tu tận hiến.
Lao động ở Châu sơn không chỉ là khai hoang để gieo hạt giống lúa mạ, cây trái và rau quả cho cuộc sinh hoạt tại thế, mà giá trị chính là gieo niềm tin yêu và hy vọng cho tương lai của cộng đoàn, của Giáo phận và Giáo hội. Là thắng vượt gian truân, chấp nhận thử thách như cách thế tôi luyện thêm ý chí bền đỗ của những tâm hồn đã chọn nếp sống khổ hạnh này.
Cho dù khách quan, sự chọn lựa nào cũng có những cái giá phải trả, ngay cả khi theo tâm ý của ơn gọi đời tu là dâng hiến và vâng phục thì thực tế vẫn là đầy hy sinh và chịu đựng. Thành vậy, trong hồi ức của Đan viện trưởng Lê Hữu Từ, chắc chắn không khi nào phai nhạt hình ảnh các người anh em đã cùng mình cất bước đồng hành từ núi Phước sơn đi gieo niềm tin mới, rồi lần lượt thành hạt lúa mì gửi vào lòng đất Châu sơn thật bi thương. Đó là trường hợp thầy Gioan vì kiệt sức đã trút hơi thở ngay đang khi lắng nghe cha Bề trên nắm tay khuyên nhủ. Một thầy khác từ trần vì bệnh sốt rét. Một trường hợp nữa, khi cha Bề trên Lê Hữu Từ đến thăm phòng các bệnh nhân trước giờ đi ngủ, gặp một đan sĩ đã tắt thở trong tư thế ngồi dựa vào tường. Và vào một buổi trưa nắng gắt, một thầy bị sốt rét nhưng không muốn được nghỉ ngơi khác mọi người mà vẫn đi làm cùng anh em và đã ngã xuống rồi tắt thở ngay trên luống đất đang cuốc dở.
Tuy cảnh đời thực tại quá cam khổ, song Châu sơn vẫn như có sức hấp dẫn giữ chân các người đã đến, đã tuyên tín quyết ở lại ngay trong cảnh sống khắc nghiệt, thiếu thốn cả dinh dưỡng lẫn thuốc men vì ai cũng vững tin có một ngày không xa, nơi đây hoa trái tin yêu sẽ rộ nở.
Ngày 18/02/1937, trong hoàn cảnh chiến tranh đang đe doạ, nghi thức đặt viên đá đầu tiên xây dựng thánh đường Châu sơn đã được diễn ra dù chỉ giữa vài ba anh em đan sĩ với nhau, song lại là hoa quả đầu mùa mở đầu cho hành trình thực hiện từng ngày ước mơ của một cộng đoàn người tin giữa lòng Giáo hội.
Ngày 19/7/1945, đang khi cộng đoàn Châu sơn từng bước nỗ lực theo đuổi chương trình phát triển đan viện, linh mục Lê Hữu Từ được Giáo hoàng Piô XII chính thức chọn làm Giám mục hiệu toà “Daphnusia” và cũng là Giám quản Tông tòa Phát diệm; mở ra một trang mới trong hành trình đức tin của ông.
Ngày 29/10/1945, chính thức cử hành nghi thức tấn phong Giám mục.
Ngày 01/11/1945, Giám mục Phát diệm.
Từ tháng 11/1948 đến tháng 3/1950, kiêm Giám quản Tông tòa Giáo phận Bùi chu sau khi Giám mục Hồ Ngọc Cẩn qua đời.
Người đan sĩ khổ hạnh, từng ròng rã 17 năm thinh lặng sống đời lao động và cầu nguyện, đã vâng phục bước ra khỏi chốn ẩn tu để đôi chân nứt nẻ vì thường đi đất, bắt đầu dấn bước trên hành trình sứ vụ mới và hai tay chai sằn vì đẽo đá, vì cuốc đất nhặt cỏ, sẽ phải vươn đến không chỉ riêng trách nhiệm với một giáo phận, mà còn cả một khung trời quê hương đang giữa cơn biến động phức tạp chưa lường được của đất nước.
Ngày 05/09/1936, cùng mười hai đan sĩ Phước sơn đặt chân đến vùng đất mới Châu sơn.
Ngày 08/9/1936, chính thức làm Bề trên Dòng Xitô Châu sơn. Khu đất để gầy dựng dòng khổ tu Châu sơn vào thời điểm này vốn là khu đồn điền của một người Pháp, đã bỏ hoang lâu ngày. Vì đã sẵn tâm nguyện mong muốn có một đan viện trong phạm vi giáo phận Phát diệm nên giám mục Nguyễn Bá Tòng đã mua lại khu đồn điền hoang phế này cùng luôn cả vùng đất chung quanh, rồi liên lạc xin Bề trên Dòng Xitô Phước sơn cho lập thêm một chi nhánh của Dòng tại địa phận Phát diệm.
Và một đan viện mới mang tên Châu sơn được hình thành.
Những năm đầu ở Châu sơn đúng là gập ghềnh sỏi đá, không xa với cách nói “khai sơn phá thạch” của người xưa bao nhiêu. Mười ba nhà ẩn tu như lạc vào hoang địa đầy lam sơn chướng khí, làm bạn với muỗi rừng và chống chọi với căn bệnh sốt rét ngã nước trong khu đồn điền bỏ hoang, chung quanh là rừng cây núi đá vây bọc, thích hợp cho rắn rết hùm beo hơn là con người. Để vượt qua khó khăn ban đầu này, mười ba anh em đan sĩ miệt mài cuộc đời tận hiến với cầu nguyện là sức sống và nỗ lực lao động là phương châm, cho dù cuộc sống vật chất luôn trong tình trạng thiếu hụt, có đủ cả đói khổ và bệnh tật. Đan viện trưởng Lê Hữu Từ, hơn ai hết, hăng say đẽo đá, cuốc đất cào sỏi, phá rừng làm nương rẫy, không màng mọi sự cực nhọc, từng ngày cặm cụi kiên nhẫn lao động. Chính vì vậy mà không ai nản lòng vì Bề trên của họ luôn là một tấm gương, một chứng nhân của đời sống khổ tu tận hiến.
Lao động ở Châu sơn không chỉ là khai hoang để gieo hạt giống lúa mạ, cây trái và rau quả cho cuộc sinh hoạt tại thế, mà giá trị chính là gieo niềm tin yêu và hy vọng cho tương lai của cộng đoàn, của Giáo phận và Giáo hội. Là thắng vượt gian truân, chấp nhận thử thách như cách thế tôi luyện thêm ý chí bền đỗ của những tâm hồn đã chọn nếp sống khổ hạnh này.
Cho dù khách quan, sự chọn lựa nào cũng có những cái giá phải trả, ngay cả khi theo tâm ý của ơn gọi đời tu là dâng hiến và vâng phục thì thực tế vẫn là đầy hy sinh và chịu đựng. Thành vậy, trong hồi ức của Đan viện trưởng Lê Hữu Từ, chắc chắn không khi nào phai nhạt hình ảnh các người anh em đã cùng mình cất bước đồng hành từ núi Phước sơn đi gieo niềm tin mới, rồi lần lượt thành hạt lúa mì gửi vào lòng đất Châu sơn thật bi thương. Đó là trường hợp thầy Gioan vì kiệt sức đã trút hơi thở ngay đang khi lắng nghe cha Bề trên nắm tay khuyên nhủ. Một thầy khác từ trần vì bệnh sốt rét. Một trường hợp nữa, khi cha Bề trên Lê Hữu Từ đến thăm phòng các bệnh nhân trước giờ đi ngủ, gặp một đan sĩ đã tắt thở trong tư thế ngồi dựa vào tường. Và vào một buổi trưa nắng gắt, một thầy bị sốt rét nhưng không muốn được nghỉ ngơi khác mọi người mà vẫn đi làm cùng anh em và đã ngã xuống rồi tắt thở ngay trên luống đất đang cuốc dở.
Tuy cảnh đời thực tại quá cam khổ, song Châu sơn vẫn như có sức hấp dẫn giữ chân các người đã đến, đã tuyên tín quyết ở lại ngay trong cảnh sống khắc nghiệt, thiếu thốn cả dinh dưỡng lẫn thuốc men vì ai cũng vững tin có một ngày không xa, nơi đây hoa trái tin yêu sẽ rộ nở.
Ngày 18/02/1937, trong hoàn cảnh chiến tranh đang đe doạ, nghi thức đặt viên đá đầu tiên xây dựng thánh đường Châu sơn đã được diễn ra dù chỉ giữa vài ba anh em đan sĩ với nhau, song lại là hoa quả đầu mùa mở đầu cho hành trình thực hiện từng ngày ước mơ của một cộng đoàn người tin giữa lòng Giáo hội.
Ngày 19/7/1945, đang khi cộng đoàn Châu sơn từng bước nỗ lực theo đuổi chương trình phát triển đan viện, linh mục Lê Hữu Từ được Giáo hoàng Piô XII chính thức chọn làm Giám mục hiệu toà “Daphnusia” và cũng là Giám quản Tông tòa Phát diệm; mở ra một trang mới trong hành trình đức tin của ông.
Ngày 29/10/1945, chính thức cử hành nghi thức tấn phong Giám mục.
Ngày 01/11/1945, Giám mục Phát diệm.
Từ tháng 11/1948 đến tháng 3/1950, kiêm Giám quản Tông tòa Giáo phận Bùi chu sau khi Giám mục Hồ Ngọc Cẩn qua đời.
Người đan sĩ khổ hạnh, từng ròng rã 17 năm thinh lặng sống đời lao động và cầu nguyện, đã vâng phục bước ra khỏi chốn ẩn tu để đôi chân nứt nẻ vì thường đi đất, bắt đầu dấn bước trên hành trình sứ vụ mới và hai tay chai sằn vì đẽo đá, vì cuốc đất nhặt cỏ, sẽ phải vươn đến không chỉ riêng trách nhiệm với một giáo phận, mà còn cả một khung trời quê hương đang giữa cơn biến động phức tạp chưa lường được của đất nước.
Đức cha Lê Hữu Từ và tự vệ Phát Diệm
II. Một chủ chăn miệt mài phục vụ Thiên Chúa và Tổ quốc
Ngày 29/10/1945, lễ tấn phong giám mục của đan sĩ Lê Hữu Từ được cử hành tại nhà thờ chính tòa Phát diệm. Hiện diện trong buổi lễ, phía Giáo hội Công giáo, không có bất kỳ một giám mục ngoại quốc nào được mời tham dự nghi thức trang trọng này ngoài ba giám mục Việt Nam là giám mục Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, giám mục Đaminh Maria Hồ Ngọc Cẩn và giám mục Phêrô Mactinô Ngô Đình Thục cùng các linh mục Tổng đại diện các Giáo phận Hà nội, Thanh hoá, Bắc ninh, Thái bình, Hưng hoá, Bùi chu, Lạng sơn, Hải phòng, Huế, Vinh. Ngay cả khi giám mục Ngô Đình Thục bị mật thám Pháp cản trở không đến được thì cũng chỉ còn giám mục Nguyễn Bá Tòng chủ phong và giám mục Hồ Ngọc Cẩn phụ phong mà không một giám mục ngoại quốc nào được nhờ thay thế. Tác giả Charles Keith trong cuốn “Công giáo Việt Nam từ Đế chế đến Quốc gia” nhận định sự việc này cho thấy các giám mục Việt Nam đã khởi đầu chủ nghĩa dân tộc trong cộng đồng Công giáo Việt Nam. Phía quan khách, có Thượng tọa Thích Trí Dũng, Đại đức Thích Tâm Châu và một phái đoàn của Chính phủ Lâm thời Việt minh gồm Bộ trưởng Tài chính Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Kinh tế Nguyễn Mạnh Hà, Bộ trưởng Tuyên truyền Trần Huy Liệu và Cựu hoàng Bảo Đại đang là cố vấn tối cao của Chính phủ Việt minh.
Buổi lễ tấn phong này không đơn thuần là một nghi lễ tôn giáo với các quan hệ xã giao thông thường, song là một biến cố chưa từng có giữa bối cảnh chính trị phức tạp lúc đó, để người vừa tiếp nhận sứ vụ chắc chắn đã hiểu ra con đường dấn thân mới sẽ phải tận sức đem khẩu hiệu giám mục đã chọn là "Tiếng kêu trong hoang địa" Vox Clamantis” không chỉ để gióng lên trong phạm vi giáo phận mình quản nhiệm, mà còn vang xa cùng dân tộc trong khát vọng độc lập và tự do. Một tiếng kêu rõ ràng nhất trong trong giai đoạn lịch sử phức tạp của đất nước Việt Nam. Và rồi thực tế sau này đã chứng minh, đây đúng là một tiếng kêu không chỉ vang trong các nhà thờ của giáo phận Phát diệm với những nghi thức thuần túy tôn giáo, mà còn là tiếng lòng của một sĩ phu Việt Nam luôn nặng mang hai chữ “quốc gia” trong trái tim, một trái tim đong đầy tình tự dân tộc, hoà quyện với giáo lý yêu thương của Đấng Cứu thế.
Giám mục Lê Hữu Từ đã làm sáng lên chủ nghĩa dân tộc nơi cộng đồng Công giáo và lan toả đến các lằn ranh chính kiến, kể cả các chiến tuyến giữa đạo và đời bằng âm vang một tiếng tiếng kêu tâm linh. Tiếng kêu này đã vang lên, không phải nơi hoang điạ, mà giữa cơn gió bụi mịt mù của lịch sử Việt Nam, để không còn là tiếng kêu mà là tiếng gọi quyết liệt đầy thương yêu của người đi làm chứng nhân bằng năng quyền quản trị của một ngôn sứ. Con đường ngôn sứ này, hơn nửa thế kỷ sau, Hồngy Joseph Ratzinger khi chưa làm Giáo hoàng, còn nhấn mạnh cụ thể hơn dịp trả lời nhà báo Peter Seewald…"Ngày nay người ta nói nhiều về vai trò ngôn sứ của Giáo hội. Từ ngữ đó đôi lúc bị lạm dụng. Nhưng đúng là Giáo hội không bao giờ đuợc phép chạy theo thời. Giáo hội phải nói lên cái xấu và cái nguy của thời đại, phải nhắc nhở lương tâm những kẻ có quyền, cả những người trí thức và cả những kẻ thờ ơ hẹp hòi trước những nỗi thống khổ của thời đại. Là giám mục, tôi thấy có nhiệm vụ phải làm chuyện đó. Lại nữa tình trạng suy đồi quá hiển nhiên: đức tin mệt mỏi, ơn gọi tu trì sút giảm, luân lý đạo đức xuống cấp ngay cả trong giới giáo sĩ, tình trạng bạo lực càng ngày càng tăng...Lời Chúa trong Kinh Thánh và những lời của các giáo phụ như vang lên trong đầu tôi, kết án nặng nề những mục tử nào làm chó câm để tránh bị phiền toái và vì thế để cho nọc độc lan tràn. Im lặng không phải là bổn phận hàng đầu của người công dân và riêng tôi, tôi kinh sợ cảnh một giám mục chỉ biết an phận, chỉ lo làm sao để tránh phiền phức và lấp liếm xung đột...”. Đây đúng là sứ vụ, là trách nhiệm phát xuất từ đức bác ái vô điều kiện và lòng ái quốc chân thành.
Buổi lễ tấn phong này không đơn thuần là một nghi lễ tôn giáo với các quan hệ xã giao thông thường, song là một biến cố chưa từng có giữa bối cảnh chính trị phức tạp lúc đó, để người vừa tiếp nhận sứ vụ chắc chắn đã hiểu ra con đường dấn thân mới sẽ phải tận sức đem khẩu hiệu giám mục đã chọn là "Tiếng kêu trong hoang địa" Vox Clamantis” không chỉ để gióng lên trong phạm vi giáo phận mình quản nhiệm, mà còn vang xa cùng dân tộc trong khát vọng độc lập và tự do. Một tiếng kêu rõ ràng nhất trong trong giai đoạn lịch sử phức tạp của đất nước Việt Nam. Và rồi thực tế sau này đã chứng minh, đây đúng là một tiếng kêu không chỉ vang trong các nhà thờ của giáo phận Phát diệm với những nghi thức thuần túy tôn giáo, mà còn là tiếng lòng của một sĩ phu Việt Nam luôn nặng mang hai chữ “quốc gia” trong trái tim, một trái tim đong đầy tình tự dân tộc, hoà quyện với giáo lý yêu thương của Đấng Cứu thế.
Giám mục Lê Hữu Từ đã làm sáng lên chủ nghĩa dân tộc nơi cộng đồng Công giáo và lan toả đến các lằn ranh chính kiến, kể cả các chiến tuyến giữa đạo và đời bằng âm vang một tiếng tiếng kêu tâm linh. Tiếng kêu này đã vang lên, không phải nơi hoang điạ, mà giữa cơn gió bụi mịt mù của lịch sử Việt Nam, để không còn là tiếng kêu mà là tiếng gọi quyết liệt đầy thương yêu của người đi làm chứng nhân bằng năng quyền quản trị của một ngôn sứ. Con đường ngôn sứ này, hơn nửa thế kỷ sau, Hồngy Joseph Ratzinger khi chưa làm Giáo hoàng, còn nhấn mạnh cụ thể hơn dịp trả lời nhà báo Peter Seewald…"Ngày nay người ta nói nhiều về vai trò ngôn sứ của Giáo hội. Từ ngữ đó đôi lúc bị lạm dụng. Nhưng đúng là Giáo hội không bao giờ đuợc phép chạy theo thời. Giáo hội phải nói lên cái xấu và cái nguy của thời đại, phải nhắc nhở lương tâm những kẻ có quyền, cả những người trí thức và cả những kẻ thờ ơ hẹp hòi trước những nỗi thống khổ của thời đại. Là giám mục, tôi thấy có nhiệm vụ phải làm chuyện đó. Lại nữa tình trạng suy đồi quá hiển nhiên: đức tin mệt mỏi, ơn gọi tu trì sút giảm, luân lý đạo đức xuống cấp ngay cả trong giới giáo sĩ, tình trạng bạo lực càng ngày càng tăng...Lời Chúa trong Kinh Thánh và những lời của các giáo phụ như vang lên trong đầu tôi, kết án nặng nề những mục tử nào làm chó câm để tránh bị phiền toái và vì thế để cho nọc độc lan tràn. Im lặng không phải là bổn phận hàng đầu của người công dân và riêng tôi, tôi kinh sợ cảnh một giám mục chỉ biết an phận, chỉ lo làm sao để tránh phiền phức và lấp liếm xung đột...”. Đây đúng là sứ vụ, là trách nhiệm phát xuất từ đức bác ái vô điều kiện và lòng ái quốc chân thành.
Đức cha Từ - ngồi thứ 5 bên trái, cùng các giám mục tham dự hội nghị về Công giáo Tiến hành tại Thái Hà năm 1953
1. Trách nhiệm mục vụ tại giáo phận Phát diệm
Ngay sau khi nhậm chức, giám mục Lê Hữu Từ phải đối diện với hoàn cảnh xã hội Việt Nam đang có nhiều biến chuyển chính trị và thực tế trước mặt là Phát diệm cũng đang nhận hậu quả khó khăn của nạn đói năm Ất dậu còn để lại. Vì vậy, bằng tâm tư một chủ chăn đi gieo hạt giống công bình và yêu thương, thêm lương tâm một người Việt Nam chân thành yêu nước luôn nặng mang tinh thần dân tộc trong trái tim một sĩ phu ưu thời mẫn thế, ông đã dung hoà một hướng tới, không chỉ là một giám mục lo về tâm linh, mà còn là một người lãnh đạo muôn người, phải mở rộng vòng tay khi có thể bảo vệ đồng bào mình đang khốn đốn vì tai trời nạn nước. Vì vậy mà giám mục Lê Hữu Từ đã không thoái thác bất cứ hành động nào xét thầy cần làm, ngay cả khi phải chọn thế đứng giữa các lằn ranh chính kiến, cũng là vì muốn có nền độc lập cho đất nước thì phải chống cả thực dân và cộng sản.
Các Ủy ban được thàn hhình như Ủy ban Cứu tế để lo việc cứu trợ, Ủy ban Quân chính lo các vấn đề về quân sự và chính trị, trong đó có lực lượng Thanh niên Công giáo Cứu quốc. Cùng hưởng ứng tinh thần này, các linh mục Tổng đại diện và các đại biểu giáo dân ở các địa phận miền Bắc và miền Trung tổ chức một cuôc họp thành lập Liên đoàn Công giáo Việt Nam với phương châm hành động vì Thiên Chúa và Tổ quốc.
Vào ngày 25/02/1946, ông Hồ Chí Minh về Phát diệm, chính thức mời giám mục Lê Hữu Từ làm Cố vấn tối cao của Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, cùng với Cựu hoàng Bảo Đại. Lời mời này kèm theo sự cam kết của ông Hồ Chí Minh, hứa để Phát diệm là khu tự trị ngoài vòng kiểm soát của chính quyền Việt minh, có toàn quyền tự quản theo một cơ chế riêng, có quyền tự tổ chức lực lượng an ninh và quân đội riêng. Các cán bộ Việt minh không được tuỳ tiện ra vào Phát diệm nếu không có phép của Toà giám mục. Vì vậy, Phát diệm đã không bị rơi vào chiến dịch tàn phá theo chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” của Việt minh. Đồng thời, dân chúng cũng không phải tản cư mà ngược lại, đã có tới hàng trăm ngàn người từ các nơi gồm mọi giai cấp và tôn giáo khác nhau, đã chọn tìm về Phát diệm vì muốn tránh cả Pháp lẫn Việt minh. Để giải quyết tình trạng cư trú cho những người tản cư này, giám mục Lê Hữu Từ quyết định ngừng tiến hành dự án xây lại Đại chủng viện và tái thiết trường Trần Lục, để lấy đất và chi phí dựng nhà cho các gia đình tìm đến có nơi an cư.
Vào thời gian Nhật đảo chính Pháp năm 1945, linh mục Hoàng Quỳnh đã tổ chức và làm Tổng tuyên úy đoàn thể Thanh niên Công giáo Phát diệm. Đây là một lực lượng được võ trang, có chiến khu đặt ở Chi nê, Hoà bình. Vào đêm 20/8/1945, sau khi Việt minh đã cướp chính quyền tại Hà nội, linh mục Hoàng Quỳnh chỉ huy lực lượng này về chiếm giữ các huyện Kim sơn, Yên khánh, Nho quan và làm chủ tình thế. Vì mới chỉ nắm được chính quyền trước một ngày nên Việt minh chưa kịp phản ứng, nhờ vậy người dân Phát diệm và các vùng lân cận tương đối được yên ổn trước hoàn cảnh mới. Khi Phát diệm trở thành một khu an toàn, lực lượng Thanh niên Công giáo Phát diệm trở thành Lực lượng Tự vệ Công giáo và giám mục Lê Hữu Từ được xem là người thành lập và lãnh đạo, là linh hồn của Lực lượng Tự vệ Công giáo vùng Bùi chu Phát diệm.
Trong chín năm vừa chu toàn trách nhiệm chủ chăn một giáo phận, vừa nắm quyền hành chính cai trị một vùng đất mang tên Bùi chu Phát diệm, giám mục Lê Hữu Từ đã chỉ hoàn toàn thể hiện đúng Đức Tin Kitô giáo mà duy trì được thế đứng độc lập và tự trị cho một vùng đất quê hương, ngoài sự kiểm soát của cả chính quyền Việt minh sau ngày 02/9/1945, cũng như với Chính phủ Quốc gia Việt Nam của vua Bảo Đại từ cuối năm 1949 và cả với người Pháp. Đây là một uy thế được củng cố và bồi đắp không đơn thuần là vì thẩm quyền tôn giáo hay các mánh lới truyên truyền bằng tiểu xảo cai trị mà chính từ tâm ý dấn thân thiết thực dành cho khối dân cư khoảng hai triệu rưỡi người, trong đó chỉ có 25% là giáo dân. Đó là giáo lý sống động của người làm tông đồ…“Ở đâu có người thiếu ăn, thiếu uống, thiếu mặc, thiếu nhà ở, thiếu thuốc men, thiếu việc làm, thiếu giáo dục, thiếu những phương tiện cần thiết để sống xứng danh con người, ở đâu có người bị đau khổ vì nghịch cảnh, ốm yếu, chịu cảnh lưu đầy, tù ngục, thì ở đó bác ái Kitô giáo phải tìm gặp, ân cần săn sóc, ủi an và xoa dịu họ bằng những trợ giúp thích đáng…”(Sắc lệnh về Tông đồ Giáo Dân).
Các Ủy ban được thàn hhình như Ủy ban Cứu tế để lo việc cứu trợ, Ủy ban Quân chính lo các vấn đề về quân sự và chính trị, trong đó có lực lượng Thanh niên Công giáo Cứu quốc. Cùng hưởng ứng tinh thần này, các linh mục Tổng đại diện và các đại biểu giáo dân ở các địa phận miền Bắc và miền Trung tổ chức một cuôc họp thành lập Liên đoàn Công giáo Việt Nam với phương châm hành động vì Thiên Chúa và Tổ quốc.
Vào ngày 25/02/1946, ông Hồ Chí Minh về Phát diệm, chính thức mời giám mục Lê Hữu Từ làm Cố vấn tối cao của Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, cùng với Cựu hoàng Bảo Đại. Lời mời này kèm theo sự cam kết của ông Hồ Chí Minh, hứa để Phát diệm là khu tự trị ngoài vòng kiểm soát của chính quyền Việt minh, có toàn quyền tự quản theo một cơ chế riêng, có quyền tự tổ chức lực lượng an ninh và quân đội riêng. Các cán bộ Việt minh không được tuỳ tiện ra vào Phát diệm nếu không có phép của Toà giám mục. Vì vậy, Phát diệm đã không bị rơi vào chiến dịch tàn phá theo chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” của Việt minh. Đồng thời, dân chúng cũng không phải tản cư mà ngược lại, đã có tới hàng trăm ngàn người từ các nơi gồm mọi giai cấp và tôn giáo khác nhau, đã chọn tìm về Phát diệm vì muốn tránh cả Pháp lẫn Việt minh. Để giải quyết tình trạng cư trú cho những người tản cư này, giám mục Lê Hữu Từ quyết định ngừng tiến hành dự án xây lại Đại chủng viện và tái thiết trường Trần Lục, để lấy đất và chi phí dựng nhà cho các gia đình tìm đến có nơi an cư.
Vào thời gian Nhật đảo chính Pháp năm 1945, linh mục Hoàng Quỳnh đã tổ chức và làm Tổng tuyên úy đoàn thể Thanh niên Công giáo Phát diệm. Đây là một lực lượng được võ trang, có chiến khu đặt ở Chi nê, Hoà bình. Vào đêm 20/8/1945, sau khi Việt minh đã cướp chính quyền tại Hà nội, linh mục Hoàng Quỳnh chỉ huy lực lượng này về chiếm giữ các huyện Kim sơn, Yên khánh, Nho quan và làm chủ tình thế. Vì mới chỉ nắm được chính quyền trước một ngày nên Việt minh chưa kịp phản ứng, nhờ vậy người dân Phát diệm và các vùng lân cận tương đối được yên ổn trước hoàn cảnh mới. Khi Phát diệm trở thành một khu an toàn, lực lượng Thanh niên Công giáo Phát diệm trở thành Lực lượng Tự vệ Công giáo và giám mục Lê Hữu Từ được xem là người thành lập và lãnh đạo, là linh hồn của Lực lượng Tự vệ Công giáo vùng Bùi chu Phát diệm.
Trong chín năm vừa chu toàn trách nhiệm chủ chăn một giáo phận, vừa nắm quyền hành chính cai trị một vùng đất mang tên Bùi chu Phát diệm, giám mục Lê Hữu Từ đã chỉ hoàn toàn thể hiện đúng Đức Tin Kitô giáo mà duy trì được thế đứng độc lập và tự trị cho một vùng đất quê hương, ngoài sự kiểm soát của cả chính quyền Việt minh sau ngày 02/9/1945, cũng như với Chính phủ Quốc gia Việt Nam của vua Bảo Đại từ cuối năm 1949 và cả với người Pháp. Đây là một uy thế được củng cố và bồi đắp không đơn thuần là vì thẩm quyền tôn giáo hay các mánh lới truyên truyền bằng tiểu xảo cai trị mà chính từ tâm ý dấn thân thiết thực dành cho khối dân cư khoảng hai triệu rưỡi người, trong đó chỉ có 25% là giáo dân. Đó là giáo lý sống động của người làm tông đồ…“Ở đâu có người thiếu ăn, thiếu uống, thiếu mặc, thiếu nhà ở, thiếu thuốc men, thiếu việc làm, thiếu giáo dục, thiếu những phương tiện cần thiết để sống xứng danh con người, ở đâu có người bị đau khổ vì nghịch cảnh, ốm yếu, chịu cảnh lưu đầy, tù ngục, thì ở đó bác ái Kitô giáo phải tìm gặp, ân cần săn sóc, ủi an và xoa dịu họ bằng những trợ giúp thích đáng…”(Sắc lệnh về Tông đồ Giáo Dân).
Từ trái qua: Các Đức Giám mục G.B. Trần Hữu Đức, Đa Minh Hoàng Văn Đoàn, Phêrô Ngô Đình Thục, Phêrô Phạm Ngọc Chi, Tađêô Lê Hữu Từ và Giuse Trịnh Như Khuê. Ảnh chụp năm 1951
Về mục vụ
Trong tình trạng chiến tranh đầy phức tạp với quá nhiều biến động lớn lao, trên thế giới cũng như tại Việt Nam, giám mục Lê Hữu Từ đã phải nỗ lực hơn sự thường để không những điều hành giáo phận ứng phó kịp theo hoàn cảnh mà còn duy trì nhịp sống tâm linh trong cộng đồng dân Chúa không bị chao đảo trước hệ phái vô thần, đồng thời bảo vệ được người dân Phát diệm, nói chung, thoát nhiều nguy cơ đến từ bạo lực của chủ nghĩa cộng sản.
Nhờ tình trạng an ninh ổn định của Phát diệm, các dòng tu gốc ngoại quốc sẵn có như dòng Đức Bà Truyền giáo (Notre Dame des Missions), dòng Saint Paul (Saint Paul de Chartres), dòng Sư huynh Lasan (Frères des Écoles Chrétiennes) và ba thành viên thuộc Hội Trợ tá Truyền giáo (Société des Auxiliaires des Missions S.A.M), được bình an sinh hoạt và phát triển. Nhất là sau khi ba nhân sự Hội Trợ tá Truyền giáo S.A.M trực tiếp đóng góp cho Phát diệm làm an toàn khu Phát diệm khởi sắc thêm cứ như thời thái bình thịnh trị. Linh mục Dieudonné Bourguignon Bửu giữ nhiệm vụ giám đốc Tiểu chủng viện Phúc nhạc; linh mục Jean Jacques Houssard làm giáo sư Pháp văn ở Tiểu chủng viện Phúc nhạc và Đại chủng viện Thượng kiệm và lo cho một số linh mục, tu sĩ, giáo dân đi du học; linh mục Robert Wyllich Lịch lập nhà máy phát điện và giúp các nữ tu Saint Paul de Chartres chăm lo bệnh viện Phú vinh.
Tiếp tục duy trì và phát triển chủng viện và đời sống các dòng tu trong giáo phận, như xây thêm nhà tập cho dòng Mến Thánh giá Lưu phương, mở mang thêm trường thử Trì chính.
Quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo linh mục. Gửi nhiều linh mục và chủng sinh du học các nước. Đại chủng viện Phát diệm có lúc cũng mở cửa đón nhận chủng sinh từ các giáo phận khác.
Canh tân Dòng Mến Thánh giá Phát diệm và kêu gọi hiệp nhất các chi nhánh Dòng Mến Thánh giá tại các giáo phận trên toàn quốc.
Lập nhà in Lê Bảo Tịnh, in sách và tài liệu về đạo. Phát hành tờ báo Tiếng Kêu làm tiếng nói chính thức của giáo phận, sau đổi thành nguyệt san Đời Sống. Thường xuyên có các bài diễn giải hướng dẫn dân chúng không phân biệt lương giáo hiểu biết về học thuyết xã hội Công giáo, về chủ nghĩa Mácxít và cách thức chống lại chủ nghĩa này. Vì vậy, không ai lạ gì khi thấy khối công dân cũng như giáo dân Phát diệm vào thời ấy, bằng ý hướng phục vụ Thiên Chúa và Tổ quốc, mà được xem như cùng chung cứu quốc như Việt minh, nhưng vẫn công khai chống cộng sản. Trong các sinh hoạt tập thể tại các nơi công cộng, đang khi họ hoan hô chính phủ kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cùng lúc họ lại vẫn quyết liệt hô đả đảo cộng sản.
Chính thức thành lập Liên đoàn Công giáo Địa phận để phát huy tinh thần đoàn kết trong giáo phận. Tổ chức này sinh hoạt song song với tổ chức Công giáo Cứu quốc của mặt trận Việt minh.
Trên đường đi dự Năm Thánh 1950, giám mục Lê Hữu Từ đã đến Paris để gặp Tổng thống Pháp Vincent Auriol, các giới chức cao cấp trong Chính phủ Pháp như René Pleven, Robert Schuman, Jean Letourneau, Georges Bidault…yêu cầu nước Pháp công khai rõ ràng về nền độc lập của Việt Nam .
Nhờ tình trạng an ninh ổn định của Phát diệm, các dòng tu gốc ngoại quốc sẵn có như dòng Đức Bà Truyền giáo (Notre Dame des Missions), dòng Saint Paul (Saint Paul de Chartres), dòng Sư huynh Lasan (Frères des Écoles Chrétiennes) và ba thành viên thuộc Hội Trợ tá Truyền giáo (Société des Auxiliaires des Missions S.A.M), được bình an sinh hoạt và phát triển. Nhất là sau khi ba nhân sự Hội Trợ tá Truyền giáo S.A.M trực tiếp đóng góp cho Phát diệm làm an toàn khu Phát diệm khởi sắc thêm cứ như thời thái bình thịnh trị. Linh mục Dieudonné Bourguignon Bửu giữ nhiệm vụ giám đốc Tiểu chủng viện Phúc nhạc; linh mục Jean Jacques Houssard làm giáo sư Pháp văn ở Tiểu chủng viện Phúc nhạc và Đại chủng viện Thượng kiệm và lo cho một số linh mục, tu sĩ, giáo dân đi du học; linh mục Robert Wyllich Lịch lập nhà máy phát điện và giúp các nữ tu Saint Paul de Chartres chăm lo bệnh viện Phú vinh.
Tiếp tục duy trì và phát triển chủng viện và đời sống các dòng tu trong giáo phận, như xây thêm nhà tập cho dòng Mến Thánh giá Lưu phương, mở mang thêm trường thử Trì chính.
Quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo linh mục. Gửi nhiều linh mục và chủng sinh du học các nước. Đại chủng viện Phát diệm có lúc cũng mở cửa đón nhận chủng sinh từ các giáo phận khác.
Canh tân Dòng Mến Thánh giá Phát diệm và kêu gọi hiệp nhất các chi nhánh Dòng Mến Thánh giá tại các giáo phận trên toàn quốc.
Lập nhà in Lê Bảo Tịnh, in sách và tài liệu về đạo. Phát hành tờ báo Tiếng Kêu làm tiếng nói chính thức của giáo phận, sau đổi thành nguyệt san Đời Sống. Thường xuyên có các bài diễn giải hướng dẫn dân chúng không phân biệt lương giáo hiểu biết về học thuyết xã hội Công giáo, về chủ nghĩa Mácxít và cách thức chống lại chủ nghĩa này. Vì vậy, không ai lạ gì khi thấy khối công dân cũng như giáo dân Phát diệm vào thời ấy, bằng ý hướng phục vụ Thiên Chúa và Tổ quốc, mà được xem như cùng chung cứu quốc như Việt minh, nhưng vẫn công khai chống cộng sản. Trong các sinh hoạt tập thể tại các nơi công cộng, đang khi họ hoan hô chính phủ kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cùng lúc họ lại vẫn quyết liệt hô đả đảo cộng sản.
Chính thức thành lập Liên đoàn Công giáo Địa phận để phát huy tinh thần đoàn kết trong giáo phận. Tổ chức này sinh hoạt song song với tổ chức Công giáo Cứu quốc của mặt trận Việt minh.
Trên đường đi dự Năm Thánh 1950, giám mục Lê Hữu Từ đã đến Paris để gặp Tổng thống Pháp Vincent Auriol, các giới chức cao cấp trong Chính phủ Pháp như René Pleven, Robert Schuman, Jean Letourneau, Georges Bidault…yêu cầu nước Pháp công khai rõ ràng về nền độc lập của Việt Nam .
Về xã hội
Ngoài việc vẫn duy trì trường Trần Lục hoạt động đều đặn, còn thúc đẩy việc mở thêm nhiều trường Công giáo tại các giáo xứ, giáo điểm để đáp ứng nhu cầu giáo dục cho hàng chục ngàn con em ở các địa phương. Cũng đồng thời, khuyến nghị các linh mục quản xứ mở các lớp bình dân học vụ cho giáo dân.
Bên cạnh việc thành lập Ủy ban Cứu tế lo cho số người tản cư đến Phát diệm mỗi ngày một tăng và vì hậu quả của nạn đói vẫn còn lan rộng, giám mục Lê Hữu Từ đã với tư cách cố vấn tối cao của chính phủ để miễn thuế cho hai tỉnh Ninh bình và Nam định.
Thực hiện các chương trình giúp người dân khai khẩn đất bồi ven biển, sửa sang lại gần bảy cây số con đê Cồn Thoi để bảo đảm mùa màng. Thành lập các nghiệp đoàn Lao công Công giáo.
Song song việc chính quyền thành lập các đoàn thể cứu quốc như Phụ lão cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc và Nhi đồng cứu quốc, An toàn khu Phát diệm cũng thành lập Tổng bộ Công giáo cứu quốc và các chương trình luyện võ cho thanh niên, các nhóm cứu thương dành cho phụ nữ và các nhóm Nhi Hồng cho thiếu nhi sinh hoạt theo cách của các hướng đạo sinh.
Toà giám mục Phát diệm và một số thân hào nhân sĩ điạ phương cùng chung tay với Chính quyền Quốc gia thành lập một khu dân sinh mới ngay bên bờ sông Trì chính, tên quen gọi là khu trại Nam dân. Từng căn nhà được san sát dựng theo các nền đất chia đều trên khắp các đường ngang dọc như bàn cờ, giống như mô hình các khu chung cư hay cư xá bình dân ở thành phố.
Bên cạnh việc thành lập Ủy ban Cứu tế lo cho số người tản cư đến Phát diệm mỗi ngày một tăng và vì hậu quả của nạn đói vẫn còn lan rộng, giám mục Lê Hữu Từ đã với tư cách cố vấn tối cao của chính phủ để miễn thuế cho hai tỉnh Ninh bình và Nam định.
Thực hiện các chương trình giúp người dân khai khẩn đất bồi ven biển, sửa sang lại gần bảy cây số con đê Cồn Thoi để bảo đảm mùa màng. Thành lập các nghiệp đoàn Lao công Công giáo.
Song song việc chính quyền thành lập các đoàn thể cứu quốc như Phụ lão cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc và Nhi đồng cứu quốc, An toàn khu Phát diệm cũng thành lập Tổng bộ Công giáo cứu quốc và các chương trình luyện võ cho thanh niên, các nhóm cứu thương dành cho phụ nữ và các nhóm Nhi Hồng cho thiếu nhi sinh hoạt theo cách của các hướng đạo sinh.
Toà giám mục Phát diệm và một số thân hào nhân sĩ điạ phương cùng chung tay với Chính quyền Quốc gia thành lập một khu dân sinh mới ngay bên bờ sông Trì chính, tên quen gọi là khu trại Nam dân. Từng căn nhà được san sát dựng theo các nền đất chia đều trên khắp các đường ngang dọc như bàn cờ, giống như mô hình các khu chung cư hay cư xá bình dân ở thành phố.
Đức Cha Từ và đức cha Phạm Ngọc Chi
2. Tại Miền Nam sau cuộc di cư 1954
Lập lại Tiểu chủng viện Phát diệm tại Phú nhuận.
Xây dựng cơ sở cho Dòng Mến Thánh giá Phát diệm tại Gò vấp
Giám đốc Trung tâm Công giáo Việt Nam tại Sài gòn
Giám đốc Nha Tuyên úy Công giáo Quân đội Việt Nam Cộng hoà.
Xây nhà hưu dưỡng tại Gò vấp dành cho các linh mục, tu sĩ gốc Phát diệm.
Lập một trụ sở của Phát diệm tại Roma. Các linh mục Vũ Kim Điện, Trần Văn Huy thay nhau trong trách nhiệm từng bước chỉnh trang trụ sở này và trở thành Foyer Phát diệm như ngày nay
Hướng dẫn và kêu gọi các linh mục gốc Phát diệm hưởng ứng và tham gia chương trình của Phủ Tổng uỷ Di cư hầu có thể giúp giáo dân Phát diệm được cùng chung nơi định cư tại các vùng Bình xuyên, Gia kiệm, Phương lâm, Bảo lộc, Cần thơ, Bến tre…cho dễ tương trợ lẫn nhau.
Nghỉ hưu một thời gian tại tu viện Châu sơn ở Đơn dương là chi nhánh của dòng Xitô Phước sơn, trước khi về sống tại An dưỡng viện Phát diệm ở Xóm Mới, Gò vấp cho đến khi qua đời.
Xây dựng cơ sở cho Dòng Mến Thánh giá Phát diệm tại Gò vấp
Giám đốc Trung tâm Công giáo Việt Nam tại Sài gòn
Giám đốc Nha Tuyên úy Công giáo Quân đội Việt Nam Cộng hoà.
Xây nhà hưu dưỡng tại Gò vấp dành cho các linh mục, tu sĩ gốc Phát diệm.
Lập một trụ sở của Phát diệm tại Roma. Các linh mục Vũ Kim Điện, Trần Văn Huy thay nhau trong trách nhiệm từng bước chỉnh trang trụ sở này và trở thành Foyer Phát diệm như ngày nay
Hướng dẫn và kêu gọi các linh mục gốc Phát diệm hưởng ứng và tham gia chương trình của Phủ Tổng uỷ Di cư hầu có thể giúp giáo dân Phát diệm được cùng chung nơi định cư tại các vùng Bình xuyên, Gia kiệm, Phương lâm, Bảo lộc, Cần thơ, Bến tre…cho dễ tương trợ lẫn nhau.
Nghỉ hưu một thời gian tại tu viện Châu sơn ở Đơn dương là chi nhánh của dòng Xitô Phước sơn, trước khi về sống tại An dưỡng viện Phát diệm ở Xóm Mới, Gò vấp cho đến khi qua đời.
Nghỉ yên muôn đời. Ảnh: Giáo phận Phát Diệm
III. Một sĩ phu ái quốc và cương trực
Trong tang lễ ngày 27/4/1967, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu với vị thế Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, truy tặng cố giám mục Lê Hữu Từ Bảo quốc Huân chương hạng Hai và Anh dũng Bội tinh hạng Ba. Việc làm này của Chính phủ Việt Nam Cộng hoà mang ý nghĩa bày tỏ niềm tri ân của Tổ quốc đối với một bậc chân tu đã đem chân lý yêu thương hoà trong dòng sinh mệnh của Dân tộc.
Là một sĩ phu ái quốc theo chủ nghĩa dân tộc tuyệt đối, khi nghe tin chiến khu Quỳnh lưu thành lập với mục đích kháng Nhật và chống Pháp, linh mục Lê Hữu Từ đã âm thầm tìm gặp. Rồi ngay cả khi biết trong hàng ngũ họ cũng có người theo chủ nghĩa Mácxít, ông vẫn hy vọng họ là một tổ chức chính trị yêu nước rất cần sự hỗ trợ. Cho nên, với tư cách là trưởng đan viện Châu sơn, linh mục Lê Hữu Từ đã nhiều lần không ngần ngại cho cán bộ Việt minh ẩn trốn trong tu viện khi cần tránh quân Nhật và Pháp.
Với tư cách cố vấn tối cao của Chính phủ, giám mục Lê Hữu Từ đã thẳng thắn phản đối ông Hồ Chí Minh về việc ký với Jean Sainteny Hiệp định Sơ bộ ngày 06/3/1946, chấp nhận để quân đội Pháp đến thay quân đội Trung hoa đang có mặt ở phía Bắc vĩ tuyến 16. Cùng ngày này, quân Pháp đổ bộ Miền Bắc bằng ngả sông Cấm vào thành phố Hải phòng.
Sau ngày Hồ Chí Minh ký Hiệp định Sơ bộ và các tạm ước để quân đội Pháp trở lại Việt Nam thì Phát diệm bắt đầu vướng vào hệ luỵ. Bởi vì, khi các lãnh tụ Quốc gia lần lượt tỏ thái độ phản kháng việc làm này của Hồ Chí Minh bằng cách ra khỏi Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, rồi đồng loạt phải tìm cách đào thoát để tránh khủng bố của Việt minh, thì dân chúng quanh vùng Phát diệm cũng thường xuyên có những vụ bị bí mật bắt đi.
Trong cuộc chiến giữa Pháp và Việt minh, dù Bùi chu Phát diệm vẫn trong thế đứng độc lập và tự chủ dưới sự chỉ huy của Tổng bộ Tự vệ Công giáo; song sau khi Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến của Việt minh tan rã, các đảng phái quốc gia bị nằm trong chiến dịch thanh trừng, nên Phát diệm cũng là mục tiêu bị nhắm chung vì nơi đây vốn là khu an toàn của những người chống cộng sản.
Vào thời điểm cuối năm 1946, đã có hàng mấy ngàn người trong các vùng chung quanh Phát diệm bị Việt minh bắt giữ với các tội danh bị gán cho là hoạt động đảng phái, có tinh thần kháng chiến tiêu cực cần phải xét lại… Những giáo dân bị bắt thường là thành viên trong Hội đồng Mục vụ các xứ đạo, các người tham gia hay ủng hộ tổ chức Thanh niên Công giáo Cứu quốc và Liên đoàn Công giáo chẳng hạn. Trước tình trạng này, giám mục Lê Hữu Từ thẳng thắn gửi thư yêu cầu Hồ Chí Minh và Việt minh phải trả tự do cho những người bị bắt vì các tội danh như trên. Lý do ông nêu ra là chính sách khủng bố này đã tạo chia rẽ giữa Công giáo và Việt minh. Kết quả, dù Chính phủ Việt minh giải quyết thoả đáng yêu cầu này, song một lằn ranh đã vạch ngang khi phía giáo dân nghi ngờ chính quyền là Cộng sản, còn Việt minh lên án dân chúng Phát diệm thiếu liên kết với kháng chiến. Người dân Bùi Chu Phát diệm mất dần niềm tin vào Chính phủ Dân chủ Cộng hoà.
Tháng 9/1947, Hồ Chí Minh cử một phái đoàn chính phủ về Phát diệm trao cho “cố vấn tối cao” Lê Hữu Từ văn thư chính thức quyết định giao quyền cai trị toàn huyện Kim sơn cho Giám mục Lê Hữu Từ. Các cơ quan hành chính và quân sự của chính quyền lui ra khỏi phạm vi quy định. Song cũng từ đây, tương quan giữa giáo quyền Phát diệm và chính quyền Việt minh chỉ còn là các cuộc thương lượng vì tại các điạ phương trong giáo phận đã xẩy ra các vụ đụng độ giữa bộ đội Việt minh và Lực lượng Tự vệ Công giáo. Hoàn cảnh này dẫn đến tâmlý người dân Bùi chu Phát diệm mất dần hảo cảm cũng như giám mục Lê Hữu Từ thay đổi cách nhìn về Việt minh.
Theo ghi nhận của báo Catholic New Service ngày 24/8/1949, giám mục Lê Hữu Từ từng bị ám sát hụt ba lần ngay trong khu vực Phát diệm.
Giám mục Lê Hữu Từ quyết định ủnghộ lập trường chống Việt minh cộng sản của Chính phủ Quốc gia được thành lập, khi Quốc trưởng Bảo Đại chính thức tuyên bố với quốc dân vào ngày 14/6/1949 về một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. Đồng thời Chính phủ Quốc gia cũng được Tòa thánh Vatican công nhận và thiết lập bang giao.
Tháng 10/1949, quân đội Pháp nhảy dù xuống Phát diệm. Trong dịp này, Quốc trưởng Bảo Đại đặc biệt cho người cầm về Phát diệm trao tận tay giám mục Lê hữu Từ bức thư mang quyết định để giám mục lập một khu tự trị gồm phần Phát diệm sẵn có và mở rộng thêm đến toàn thể khu vực Bùi chu. Lực lượng Tự vệ Công giáo trực tiếp trách nhiệm với Quốc trưởng Bảo Đại như là một Phong trào Quốc gia Tự vệ. Bùi chu Phát diệm thành khu an toàn rộng lớn, lan dần tới tận Phúc nhạc, Gia khánh, Gia viễn và Nho quan dưới sự chỉ huy tối cao của Tổng bộ Tự vệ Công giáo đặt căn cứ tại Phát diệm.
Là một sĩ phu ái quốc theo chủ nghĩa dân tộc tuyệt đối, khi nghe tin chiến khu Quỳnh lưu thành lập với mục đích kháng Nhật và chống Pháp, linh mục Lê Hữu Từ đã âm thầm tìm gặp. Rồi ngay cả khi biết trong hàng ngũ họ cũng có người theo chủ nghĩa Mácxít, ông vẫn hy vọng họ là một tổ chức chính trị yêu nước rất cần sự hỗ trợ. Cho nên, với tư cách là trưởng đan viện Châu sơn, linh mục Lê Hữu Từ đã nhiều lần không ngần ngại cho cán bộ Việt minh ẩn trốn trong tu viện khi cần tránh quân Nhật và Pháp.
Với tư cách cố vấn tối cao của Chính phủ, giám mục Lê Hữu Từ đã thẳng thắn phản đối ông Hồ Chí Minh về việc ký với Jean Sainteny Hiệp định Sơ bộ ngày 06/3/1946, chấp nhận để quân đội Pháp đến thay quân đội Trung hoa đang có mặt ở phía Bắc vĩ tuyến 16. Cùng ngày này, quân Pháp đổ bộ Miền Bắc bằng ngả sông Cấm vào thành phố Hải phòng.
Sau ngày Hồ Chí Minh ký Hiệp định Sơ bộ và các tạm ước để quân đội Pháp trở lại Việt Nam thì Phát diệm bắt đầu vướng vào hệ luỵ. Bởi vì, khi các lãnh tụ Quốc gia lần lượt tỏ thái độ phản kháng việc làm này của Hồ Chí Minh bằng cách ra khỏi Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, rồi đồng loạt phải tìm cách đào thoát để tránh khủng bố của Việt minh, thì dân chúng quanh vùng Phát diệm cũng thường xuyên có những vụ bị bí mật bắt đi.
Trong cuộc chiến giữa Pháp và Việt minh, dù Bùi chu Phát diệm vẫn trong thế đứng độc lập và tự chủ dưới sự chỉ huy của Tổng bộ Tự vệ Công giáo; song sau khi Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến của Việt minh tan rã, các đảng phái quốc gia bị nằm trong chiến dịch thanh trừng, nên Phát diệm cũng là mục tiêu bị nhắm chung vì nơi đây vốn là khu an toàn của những người chống cộng sản.
Vào thời điểm cuối năm 1946, đã có hàng mấy ngàn người trong các vùng chung quanh Phát diệm bị Việt minh bắt giữ với các tội danh bị gán cho là hoạt động đảng phái, có tinh thần kháng chiến tiêu cực cần phải xét lại… Những giáo dân bị bắt thường là thành viên trong Hội đồng Mục vụ các xứ đạo, các người tham gia hay ủng hộ tổ chức Thanh niên Công giáo Cứu quốc và Liên đoàn Công giáo chẳng hạn. Trước tình trạng này, giám mục Lê Hữu Từ thẳng thắn gửi thư yêu cầu Hồ Chí Minh và Việt minh phải trả tự do cho những người bị bắt vì các tội danh như trên. Lý do ông nêu ra là chính sách khủng bố này đã tạo chia rẽ giữa Công giáo và Việt minh. Kết quả, dù Chính phủ Việt minh giải quyết thoả đáng yêu cầu này, song một lằn ranh đã vạch ngang khi phía giáo dân nghi ngờ chính quyền là Cộng sản, còn Việt minh lên án dân chúng Phát diệm thiếu liên kết với kháng chiến. Người dân Bùi Chu Phát diệm mất dần niềm tin vào Chính phủ Dân chủ Cộng hoà.
Tháng 9/1947, Hồ Chí Minh cử một phái đoàn chính phủ về Phát diệm trao cho “cố vấn tối cao” Lê Hữu Từ văn thư chính thức quyết định giao quyền cai trị toàn huyện Kim sơn cho Giám mục Lê Hữu Từ. Các cơ quan hành chính và quân sự của chính quyền lui ra khỏi phạm vi quy định. Song cũng từ đây, tương quan giữa giáo quyền Phát diệm và chính quyền Việt minh chỉ còn là các cuộc thương lượng vì tại các điạ phương trong giáo phận đã xẩy ra các vụ đụng độ giữa bộ đội Việt minh và Lực lượng Tự vệ Công giáo. Hoàn cảnh này dẫn đến tâmlý người dân Bùi chu Phát diệm mất dần hảo cảm cũng như giám mục Lê Hữu Từ thay đổi cách nhìn về Việt minh.
Theo ghi nhận của báo Catholic New Service ngày 24/8/1949, giám mục Lê Hữu Từ từng bị ám sát hụt ba lần ngay trong khu vực Phát diệm.
Giám mục Lê Hữu Từ quyết định ủnghộ lập trường chống Việt minh cộng sản của Chính phủ Quốc gia được thành lập, khi Quốc trưởng Bảo Đại chính thức tuyên bố với quốc dân vào ngày 14/6/1949 về một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. Đồng thời Chính phủ Quốc gia cũng được Tòa thánh Vatican công nhận và thiết lập bang giao.
Tháng 10/1949, quân đội Pháp nhảy dù xuống Phát diệm. Trong dịp này, Quốc trưởng Bảo Đại đặc biệt cho người cầm về Phát diệm trao tận tay giám mục Lê hữu Từ bức thư mang quyết định để giám mục lập một khu tự trị gồm phần Phát diệm sẵn có và mở rộng thêm đến toàn thể khu vực Bùi chu. Lực lượng Tự vệ Công giáo trực tiếp trách nhiệm với Quốc trưởng Bảo Đại như là một Phong trào Quốc gia Tự vệ. Bùi chu Phát diệm thành khu an toàn rộng lớn, lan dần tới tận Phúc nhạc, Gia khánh, Gia viễn và Nho quan dưới sự chỉ huy tối cao của Tổng bộ Tự vệ Công giáo đặt căn cứ tại Phát diệm.
Khu mộ của Đức cha tại An dưỡng viện Gò Vấp. Ảnh: Giáo phận Phát Diệm
Lực lượng Tự vệ Công giáo được trang bị thêm vũ khí. Các giáo xứ bắt đầu chương trình huấn luyện thanh niên về quân sự. Trong nghi thức chào Cờ Quốc gia, sau khi bài Quốc ca “Tiếng gọi thanh niên” chấm dứt, bài hát “Hướng về Vatican” được cất lên…Ta người Công giáo giải phóng non sông, cương quyết đấu tranh Nam Bắc một lòng xông pha quật cường sống. Sơn hà nguy biến đã có chí trai, cương quyết hy sinh cho khắp muôn nhà tự do vẫy vùng. Quyết thắng ta hướng về Vatican thành cao sáng. Vatican, Vatican ánh sáng soi cho khắp nhân loại thanh bình. Duy trì bác ái cho muôn dân thương cùng nhau. Dẫu có khổ đau mau dâng lên cùng Chúa ta…
Tháng 6/1951, quyền tự trị về hành chính của Phát diệm chính thức chấm dứt do quyết định của Thủ tướng Trần Văn Hữu, vị trí khu an toàn trước đó được tái sáp nhập vào chung hệ thống cai trị của Chính quyền Quốc gia, song tinh thần một thời tự vệ tự cường vẫn còn trong tâm thức người dân.
Theo tác giả Nguyễn Tiến Hưng…Lập trường của giám mục Từ là chống đối việc chia đất, nhưng khi thấy chiều hướng đã rõ về việc này, ngài chuyển sang tranh đấu để phía Quốc Gia vẫn còn giữ được một chỗ đứng ở Miền Bắc. Giới lãnh đạo “Tổng Bộ Tự Vệ” lúc ấy đều biết rằng giám mục Từ đang bí mật yêu cầu ông Bảo Đại qua Thủ Hiến Bắc Việt và cả phía tướng lãnh Pháp để giữ lại khu vực Phát Diệm, Bùi Chu…(Khi Đồng Minh nhảy vào, tr. 156).
Sau Hiệp định Genève, giám mục Lê Hữu Từ cũng như lực lượng Bảo an đoàn mà phần lớn là hậu thân của Lực lượng Tổng bộ Tự vệ vẫn còn muốn cố thủ Phát diệm đã không có kế hoạch di tản.
Ngày 29/6/1954, Phát diệm bị bỏ ngỏ sau khi bị Việt minh về tấn công vào lúc gần nửa đêm cùng với sự sắp xếp của người Pháp để ép giám mục Lê Hữu Từ phải ra đi. Bởi vì, sau cuộc giao tranh, chỉ huy cao cấp của Pháp đến gặp giám mục Lê Hữu Từ và khi đó việc di tản mới đặt ra. Người Pháp đem một tầu chiến nhỏ đậu ở sông Trì chính, giúp việc di tản. Sự việc đến bất ngờ và khẩn cấp nên giám mục Lê Hữu Từ phải chọn lựa, cùng một số giáo dân rời Phát diệm như mọi người di cư để gìn giữ một niềm tin…
Mỗi khi nói hay viết về giám mục Lê Hữu Từ, đã có các người thường vẫn giữ một nhận định chung chung rằng đây là một giám mục làm chính trị hơi nhiều.
Hướng nhìn này phát sinh bởi nhóm chữ “tôn giáo không làm chính trị” vốn đã từ lâu được các nhà lãnh đạo tinh thần lạm dụng cách hàm hồ như một loại “thẻ bài miễn tử” để họ độc quyền quay lưng với trách nhiệm phải dấn thân phục vụ công ích và công bằng xã hội bằng năng quyền quản trị và giáo huấn cùng với bổn phận vuơng đế và ngôn sứ.
Thực tế, “làm chính trị” theo đúng nghĩa không phải dễ và ai cũng làm được. Bởi vì, muốn làm chính trị đúng nghĩa thì ít nhất cũng phải có trình độ chính kiến, thích quan tâm về chính sự, có khả năng và uy thế để bước vào chính giới và giầu kiến thức trong chính luận nơi chính trường, có tài tổ chức hoặc gia nhập các chính đảng rồi thành chính khách hay chính trị gia, được chính thức dự phần vào guồng máy chính quyền với chức vụ nào đó gọi là tham chính, thì theo cách này, đúng là Giáo hội cấm các tu sĩ tham gia như quy định của “Hiến chế Mục vụ” về “Cộng đoàn chính trị và Giáo hội”…Giáo hội không thể đồng hoá với một cộng đoàn chính trị và cũng không cấu kết với bất cứ hệ thống chính trị nào… (câu 76). Vì vậy, nếu như một chức sắc nào trong Giáo hội, dù tự ý hay bị ép buộc, qua các hình thức tham gia guồng máy chính quyền, đấy mới là làm chính trị, mới là có sự cấu kết như Hiến chế Mục vụ nêu ra. Và điều này chứng tỏ họ đã bị thuần hoá bởi hệ thống quyền lực chính trị rồi. Và đây mới chính là giới hạn cảnh cáo của Giáo hội. Còn khi dấn thân vào chính trường không phải vì tham vọng cá nhân muốn chạy theo quyền lực, mà vì muốn thay cho anh em mình lên tiếng giữa cuộc sống để bảo vệ đức tin, để duy trì lương tâm Công giáo và công bằng xã hội thì lại chính là sứ vụ, như khi giám mục Lê Hữu Từ xác định…Làm chính trị theo nghĩa giành lấy quyền hành thì tôi không làm; nhưng nếu là để cứu dân, giữ đạo và giữ gìn làng mạc, bảo vệ tự do tôn giáo thì tôi phải làm. Không ai được quyền đứng nhìn người ta chết, nhà thờ cháy và giáo dân ly tán rồi nói tôi chỉ là giám mục…Cho nên, bằng tâm ý chỉ phụng sự Thiên Chúa và Tổ quốc, giám mục Lê Hữu Từ đã phải làm và đã thành công trong việc bảo vệ khu tự trị Bùi chu Phát diệm thoát khỏi sự khuynh loát của cả thực dân lẫn cộng sản, phù hợp với sự khẳng định của “Hiến chế Mục vụ về Giáo hội Trong Thế giới Ngày Nay” là "Giáo hội cũng phải được quyền nói lên nhận định luân lý của mình về cả những vấn đề liên quan đến lãnh vực chính trị khi quyền lợi căn bản của con người hay phần rỗi các linh hồn đòi hỏi”. Đồng thời, hai chữ “tôn giáo” cũng không thể bị thu hẹp để chỉ bao dung gọn gàng cho từng cá nhân mục tử, đang mang trọng trách lãnh đạo tinh thần của một khối tín hữu giữa cộng đồng xã hội mà làm ngơ mọi sự. Chẳng những thế, giám mục Lê hữu Từ cũng còn bị nhiều chức sắc thời nay đang trong thế đứng chăn dắt phê phán bằng nhóm chữ “không thức thời”. Chắc hẳn chữ “thức thời” trong ý kiến này chỉ mang nghĩa là phải xuôi theo hoàn cảnh chính trị trước mặt, hoặc là để củng cố cả quyền lẫn lợi, hoặc có khi chỉ vì mục đích cầu an, dù biết là phải thoả hiệp ngay cả với sự dữ của thế gian…
Còn một điều đáng buồn cũng cần nói là khái niệm “chó câm” mà Hồngy Joseph Ratzinger, sau là Giáo hoàng Biển đức 16, nêu ra đã bị rất nhiều tu sĩ, giáo sĩ vì không biết hay cố tình không muốn biết khi cho là người dùng nó đã quá nặng lời, đã nên cớ cho nhiều người sẵn bất mãn với “các đấng làm thầy” vin vào mà công khai mỉa mai các chủ chăn. Song thực tế chính xác, đây là khái niệm có từ thời Cựu ước, được ghi rõ nơi sách Isaia chương 56, các câu 1 và 10-11, về các thủ lãnh bất xứng như sau:…"Đức Chúa phán như sau: hãy tuân giữ điều chính trực, thực hành điều công minh vì ơn cứu độ của Ta đã gần tới… Những người canh gác Ítraen đui mù hết, chẳng hiểu biết gì; cả bọn chúng là lũ chó câm, không biết sủa, chỉ mơ mộng nằm dài và thích ngủ thôi. Chúng còn là lũ chó đói ăn chẳng biết no. Thế mà chúng lại là mục tử, thứ mục tử chẳng biết phân biệt gì. Cả bọn chẳng trừ ai mạnh ai theo đường nấy, chỉ mưu tìm lợi lộc cho riêng mình…”. Và gần đây, Đức Thánh Cha Phanxicô trong Thông điệp “Laudato Si” cũng đã chẳng kêu gọi Giáo hội "do something to solve our problems" phải hành động cách nào để giải quyết các vấn đề…đó sao!
Phạm MinhTâm
Cùng chủ đề
