Điều làm tôi chú ý khi đọc thông điệp Magnifica Humanitas không chỉ là những gì Đức Leo XIV nói về trí năng nhân tạo (artificial intelligence, AI) mà là những gì ngài không nói, vì rằng đôi khi một văn kiện thần học bộc lộ hướng đi của nó không chỉ qua những khẳng định mà còn qua những quãng im lặng.
Nếu cách đây vài thập niên người ta hỏi, giáo hội sẽ trả lời thế nào trước sự xuất hiện của những cái máy có khả năng bắt chước ngày càng nhiều hoạt động trí năng và tri thức của con người? Có lẽ nhiều người sẽ dự đoán rằng câu trả lời sẽ đi theo con đường cổ điển của thần học và triết học Công giáo. Người ta sẽ nói đến linh hồn, đến hình ảnh Thiên Chúa nơi con người, đến bản tính có lý trí, đến ý chí tự do, đến khả năng hướng về chân thiện mỹ, hay xa hơn nữa là đến khả năng hướng đến siêu việt. Tôi thực sự chờ đợi điều này khi bắt đầu đọc Magnifica Humanitas.
Tôi cũng có ý chờ đợi một cuộc đối thoại với triết học tâm thức (philosophy of mind) đương đại. Những khái niệm như ý hướng tính (intentionality), ý thức, chủ thể tính, kinh nghiệm ngôi thứ nhất hay tính quy chiếu của tư duy dường như là những ứng viên tự nhiên cho các cuộc tranh luận về AI.
Nhưng hầu như Đức Leo XIV không đi theo những chiều hướng ấy. Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa ngài phủ nhận truyền thống. Không ai đọc thông điệp này có thể nghĩ rằng ngài đang từ bỏ nền nhân học Ki-tô giáo cổ điển. Linh hồn vẫn ở đó. Hình ảnh Thiên Chúa vẫn ở đó. Phẩm giá bất khả xâm phạm của con người vẫn ở đó. Nhưng chúng xuất hiện như một tiền giả định hơn là trung tâm của lập luận. Thay vào đó, ngôn ngữ mà ngài sử dụng liên tục xoay quanh những từ ngữ khác: phán đoán, phân định, trách nhiệm, hiệp thông, ý nghĩa, ký ức, quan hệ. Càng đọc, tôi càng có cảm giác rằng cuộc tranh luận không còn diễn ra trên bình diện con người sở hữu điều gì mà máy móc không có; nó đang được chuyển sang vấn đề con người làm gì với tư cách một ngôi vị. Đây là một dịch chuyển đáng chú ý.
Trong phần lớn lịch sử thần học Công giáo, những tranh luận về con người thường mang màu sắc bản thể học. Người ta hỏi con người là gì. Linh hồn là gì. Trí năng là gì. Ý chí là gì. Những câu hỏi ấy hoàn toàn chính đáng và vẫn còn cần thiết. Nhưng AI tạo ra một tình huống mới. Máy móc ngày nay có thể viết văn, làm thơ, vẽ tranh, dịch thuật, tổng hợp thông tin, sáng tác âm nhạc, thậm chí tham gia vào những cuộc đối thoại kéo dài. Dù tất cả những hoạt động ấy chỉ là mô phỏng, hay nói một cách chính xác hơn về phương diện kỹ thuật là chỉ mang tính cú pháp (syntactics) mà không chứa đựng ngữ nghĩa (semantics), chúng vẫn đủ để làm lung lay trực giác phổ biến về điều gì là độc nhất nơi con người. Trong tình huống đó, nếu thần học chỉ dựa trên các năng lực chức năng thì ranh giới sẽ ngày càng trở nên mờ nhạt. Máy móc nhớ tốt hơn chúng ta, tính toán nhanh hơn chúng ta, xử lý dữ liệu hiệu quả hơn chúng ta. Ngày mai có thể chúng sẽ viết văn hoặc làm thơ hay hơn nhiều người trong chúng ta. Vậy đâu là điểm phân biệt con người và máy móc?
Đức Leo XIV không trả lời câu hỏi này từ một tầng siêu hình học cao hơn. Ngài không dành nhiều thời gian để chứng minh rằng AI không có linh hồn hay không có ý thức. Thay vào đó, ngài dường như dịch chuyển toàn bộ cuộc thảo luận sang lãnh vực của trải nghiệm nhân vị. AI có thể tính toán nhưng con người phải phán đoán. AI có thể dự đoán nhưng con người phải phân định. AI có thể tạo ra nội dung nhưng con người phải gánh lấy trách nhiệm về ý nghĩa của nội dung ấy. AI có thể hỗ trợ quyết định nhưng con người vẫn là kẻ phải trả lời cho quyết định đó. Đây là một thứ ngôn ngữ khác: thay vì là ngôn ngữ của bản thể trước hết, nó là ngôn ngữ của kinh nghiệm sống; thứ ngôn ngữ dịch chuyển từ “con người sở hữu điều gì” đến với “con người hiện hữu như thế nào.” Ở đây người ta có thể nhận ra một sự dịch chuyển tinh tế trong nhân học Công giáo đương đại. Không phải từ bỏ Thomas Aquinas, nhưng đọc Thomas sau một thế kỷ của hiện tượng học, chủ nghĩa nhân vị và thần học Communio. Thực ra, nếu đọc kỹ, người ta sẽ nhận ra rằng những từ ngữ mà Đức Leo XIV dùng có họ hàng gần gũi với nhiều dòng tư tưởng của thế kỷ XX hơn là với triết học kinh viện cổ điển. “Hiệp thông” gợi nhớ đến thần học Communio. “Trách nhiệm” gợi nhớ đến Emmanuel Levinas. “Nhân vị” gợi nhớ đến Karol Wojtyła (Đức Giáo tông John Paul II). “Ý nghĩa” và “kinh nghiệm” gợi nhớ đến nhiều chiều kích của hiện tượng học. Điều này không có nghĩa Đức Leo XIV đang trở thành một triết gia hiện tượng học. Nhưng có vẻ như ngài trực giác rằng cuộc khủng hoảng do AI gây ra không phải trước hết là khủng hoảng về bản thể học. Nó là khủng hoảng về nhân vị học. Vấn đề không ở chỗ máy móc có suy nghĩ hay không; vấn đề là điều gì sẽ xảy ra với con người khi ngày càng nhiều hoạt động của con người được chuyển giao cho máy móc. Đó là một vấn đề hoàn toàn khác.
Và có lẽ chính vì thế mà thông điệp dành nhiều sự chú ý đến phán đoán hơn là trí năng hay sự thông minh, đến trách nhiệm hơn là năng lực, đến hiệp thông hơn là hiệu suất. Điểm này trở nên đặc biệt rõ trong phần cuối của chương ba, nơi Đức Leo XIV nói về “giới hạn, trái tim và sự cao cả của con người.” Đây có lẽ là những đoạn đẹp nhất của toàn bộ văn kiện. Bởi vì trong thế giới kỹ thuật hiện đại, giới hạn thường bị hiểu như một khiếm khuyết. Công nghệ xuất hiện như nỗ lực liên tục nhằm loại bỏ giới hạn: giới hạn của ký ức, giới hạn của thân xác, giới hạn của thời gian, giới hạn của khoảng cách, và cuối cùng là giới hạn của chính con người. Nhưng Đức Leo XIV dường như đề nghị một trực giác khác. Có những giới hạn không phải là khiếm thuyết. Có những giới hạn làm nên con người. Sự hữu hạn của chúng ta không đơn thuần là điều cần vượt qua. Nó là điều phải được đón nhận. Và ở đây điều đáng chú ý nhất không phải là “giới hạn” hay “sự cao cả.” Điều đáng chú ý nhất là “trái tim.” Ngài đặt trái tim ở giữa giới hạn và sự cao cả, như thể muốn nói rằng sự cao quý của con người không xuất hiện bằng cách thoát khỏi giới hạn của thân phận thụ tạo, nhưng bằng cách đón nhận nó. Không phải bằng cách trở nên giống thần linh; bằng cách trở nên con người.
Và có lẽ đó chính là câu trả lời sâu xa nhất của Magnifica Humanitas đối với AI. Vấn đề không phải là máy móc có bao giờ đủ trí năng hay sự thông minh hay không; vấn đề là ngay cả khi một ngày nào đó chúng vượt qua con người trong nhiều khả năng tri thức, câu hỏi căn bản của Ki-tô giáo vẫn không thay đổi. Con người không được định nghĩa bởi những gì mình có thể làm. Con người được định nghĩa bởi những gì mình có thể là. Con người được định nghĩa bởi cách mình hiện hữu, bởi khả năng yêu thương, khả năng chịu trách nhiệm, khả năng sống trong hiệp thông, và sau cuối là khả năng đứng trước Thiên Chúa như một ngôi vị hữu hạn nhưng được mời gọi bước vào sự sống vô hạn của Người.
Và đây là những đoạn tôi cho là đẹp nhất trong toàn bộ Magnifica Humanitas. Các đoạn này nằm cuối chương ba, dưới tiêu đề “Giới hạn, trái tim và sự cao cả của con người”. Ngôn ngữ nhân học của thông điệp mang bóng dáng hiện tượng luận nhưng cốt lõi vẫn là nhân học Augustine: “Loại bỏ hoàn toàn đau khổ chung cuộc có nghĩa là dập tắt luôn tình yêu và khát vọng.”
Tôi dịch lại từ bản tiếng Anh trên trang web của Tòa thánh:
118. Ngày nay mối quan hệ của chúng ta với cuộc sống dường như đang lâm vào một cuộc khủng hoảng. Mọi điều xuất hiện như một “giới hạn” — sự bất lực, bệnh tật, tuổi già, đau khổ, dễ bị tổn thương — có khuynh hướng bị xem là, chủ yếu, như một khiếm khuyết cần phải sửa hơn là một thực tại mà qua đó nhân tính của chúng ta trưởng thành và mở ra với các mối quan hệ. Tuy nhiên, chúng ta cần nhớ rằng con người thăng tiến không phải bất chấp những giới hạn, mà thường qua chính những giới hạn đó. Ánh sáng của đức tin đem lại một cái nhìn về thực tại giúp chúng ta nhận ra điều mà người ta thường gọi là “tính hữu hạn ngẫu nhiên” của sự vật trong thế giới này. Nếu việc tìm cách giảm bớt những đau khổ gắn liền với cuộc sống con người là điều chính đáng thì việc nhìn nhận sự hữu hạn căn bản của mình là trí tuệ, vì rằng “trải nghiệm tôn giáo, và đặc biệt là đức tin Ki-tô giáo, mời gọi chúng ta sống, mà không đơn giản hóa, trong sự nhập nhằng giữa sự vĩ đại và giới hạn của con người, giải thích nó dưới ánh sáng của mối quan hệ nguyên thủy và nền tảng giữa chúng ta với Thiên Chúa.”
119. Chính trong những giới hạn của mình mà chúng ta tìm thấy chỗ đứng cho lòng trắc ẩn, cũng như cho sự quan tâm chân thành đến nhu cầu của người khác, cho lòng quảng đại có thể xuất hiện ngay giữa bóng tối và sự thất bại, cho trải nghiệm thiêng liêng và việc thờ phụng Thiên Chúa. Chúng ta nhận ra điều này khi giới hạn của mình trở nên rõ ràng: khi phải đối diện với sự khước từ, khi đau đớn trước bệnh tật hay sự mất mát của người thân yêu, khi chạm đến sự yếu đuối hay thất bại của chính mình. Một cách mầu nhiệm, chính trong những khoảnh khắc ấy chúng ta có thể khám phá ra một trí tuệ mới, cảm nghiệm một cách rõ ràng sự gần gũi của người khác và gặp gỡ sự hiện diện của Thiên Chúa.
120. Ngay cả khi giới hạn được cảm nhận như một nỗi đau nội tâm, trí tuệ của con người vẫn dạy chúng ta không từ chối hay đè nén nó, mà biến nó thành một phần của cuộc sống. Loại bỏ hoàn toàn đau khổ chung cuộc có nghĩa là dập tắt luôn tình yêu và khát vọng. Những ai yêu và khao khát không thể tránh khỏi trải qua thử thách và đau khổ; rồi theo năm tháng, chúng ta mang trong mình những bài học để lại dấu tích như những vết sẹo, những ký ức của một hành trình được định hình bởi tự do và sự thất bại, những giấc mơ và những nỗi thất vọng. Chính nhờ sự tương tác giữa tất cả những yếu tố ấy mà những điều kỳ diệu của tâm hồn xuất hiện nơi chúng ta, giúp chúng ta cảm nhận được sự giàu có nơi nhân tính của mình. Từ bỏ cuộc phiêu lưu vừa bi kịch vừa huy hoàng này nhân danh một thứ siêu việt được cho là có thể vượt qua mọi giới hạn có thể mang nhiều ý nghĩa khác, nhưng nó sẽ không còn là điều thuộc về con người nữa.
