Tủ sách J.H. Newman: Về chữ “πειρασμός” trong Kinh Lạy Cha và trong Loukas 22

5.00 star(s) 1 Vote
Thành viên
Tham gia
15/10/25
Bài viết
64

Bài trước nói về chữ ἐπιούσιος, một chữ được cho là do các nhà phúc âm sáng tạo ra và chỉ xuất hiện trong Kinh Lạy Cha mà không tìm thấy ở bất cứ trước tác Hy Lạp đương thời nào khác. Chữ này được thánh Jerome dịch sang Latin là “siêu bản thể”, và tôi lặp lại trong bản Tân Ước của Tủ sách J.H. Newman là “thiết yếu cho sự sinh tồn”. Bài này bàn về một chữ khác, cũng trong Kinh Lạy Cha, và xuất hiện nhiều lần khác cùng bối cảnh trong chương 22 của Tin mừng theo Loukas, đã khiến tôi cân nhắc rất lâu. Chữ đó là πειρασμός.​


phailamgi_Tủ sách J.H. Newman Về chữ “πειρασμός” trong Kinh Lạy Cha và trong Loukas 22_cv1.jpg


Chữ πειρασμός này, theo tôi, cũng thuộc cùng một loại với chữ ἐπιούσιος: một chữ tưởng như quen thuộc đến mức không còn gì để bàn nữa, nhưng càng đi sâu vào truyền thống kinh sách và lịch sử thần học, tôi nhận ra là không thể tiếp tục với sự giản lược như thế. Có lẽ chính vì sự “quen thuộc” quá lâu ấy mà chúng ta thường không còn nghe được độ rung thần học của nó nữa. Trong bản dịch Tân Ước của Tủ sách J.H. Newman, tôi chọn dịch πειρασμός là “thử thách”, cả trong Kinh Lạy Cha lẫn trong Loukas 22:

μὴ εἰσενέγκῃς ἡμᾶς εἰς πειρασμόν (Matthaios 6:13a)
“đừng dẫn chúng con đến với thử thách”;

Ὑμεῖς δέ ἐστε οἱ διαμεμενηκότες μετ’ ἐμοῦ ἐν τοῖς πειρασμοῖς μου (Loukas 22:28)
“Nhưng anh em là những người ở lại với tôi trong thử thách của tôi”;

và sau đó, trên đồi Elaion:

προσεύχεσθε μὴ εἰσελθεῖν εἰς πειρασμόν (Loukas 22:40)
“hãy cầu nguyện để anh em không đến với thử thách”

Câu này lặp lại lần nữa sáu câu sau đó trong Loukas 22:46.

Thánh Jerome dịch πειρασμοῖς sang Latin là tentatio. Nhưng tentatio trong Latin cổ bao gồm thử thách, khảo nghiệm, khủng hoảng. Về sau tentatio bị thu hẹp lại thành đạo đức cá nhân trong ngôn ngữ đại chúng phương Tây, rồi bước vào tiếng Việt với “cám dỗ” – “sa chước cám dỗ”. Tôi biết, chữ “cám dỗ” quen thuộc hơn với truyền thống phụng vụ tiếng Việt. Nhưng từ những câu chuyện của kinh sách, tôi nghĩ rằng nếu hiểu πειρασμός chỉ như “cám dỗ”, đặc biệt theo nghĩa luân lý hẹp của thời hiện đại, chúng ta vô tình làm mất đi gần như toàn bộ chiều sâu hiện sinh và thần học của chữ ấy. Bởi “cám dỗ”, trong cảm thức hiện đại, thường gợi lên điều gì đó của chiều kích cá nhân và tâm lý: bị lôi kéo vào lầm lạc, nhất là trong các dục vọng của thân xác hay ham muốn nội tâm.

Nhưng πειρασμός trong thế giới kinh sách Do Thái-Cứu thế rộng hơn rất nhiều. Nó là thử luyện, khảo nghiệm, khủng hoảng, sự bị đặt vào tình trạng phải bộc lộ chính mình. Nói cách khác, πειρασμός không chỉ là lúc con người bị dụ dỗ làm điều xấu, mà là lúc toàn bộ hữu thể của con người bị đặt dưới áp lực. Điều này rất quan trọng. Bởi khi đọc kinh sách như một tổng thể, chúng ta sẽ nhận ra rằng đời sống đức tin, từ Abraham cho đến các sứ đồ, chưa bao giờ được trình bày như một trạng thái ổn định, yên bình và an toàn về mặt tâm lý. Nó luôn là hành trình qua thử thách. Kinh Thất thập, bản Hy Lạp của kinh Cựu Ước, dùng động từ ἐπείρασε để nói việc “Thiên Chúa thử thách Abraham”, ὁ Θεός ἐπείρασε τὸν ῾Αβραὰμ (Khởi thủy 22:1). Israel phải đi qua sa mạc. Job phải đi qua đổ vỡ. Các ngôn sứ phải đi qua cô độc. Và chính Chúa cũng đi vào hoang địa để chịu πειρασμός. Điều đáng chú ý là Tin mừng nói rất rõ: chính Thần Khí dẫn ngài vào hoang địa.

phailamgi_Tủ sách J.H. Newman Về chữ “πειρασμός” trong Kinh Lạy Cha và trong Loukas 22_cv2.jpg


Điều này, đối với con người hiện đại, thật ra rất khó chấp nhận. Bởi chúng ta đã quen với một thứ hình dung về Thiên Chúa như một đấng bảo đảm sự an toàn hiện sinh cho con người – nghĩa là nếu có đủ đức tin thì đời sống sẽ “ổn”, sẽ tránh được khủng hoảng, tránh được thất bại, tránh được đêm tối nội tâm. Nhưng truyền thống kinh sách Do Thái-Cứu thế không vận hành như thế. Trong kinh sách, thử thách không nằm bên lề đời sống đức tin. Nó nằm ở trung tâm. Và vì thế, khi Đức Ki-tô nói với các môn đệ, “anh em là những người ở lại với tôi trong thử thách của tôi”, ngài không chỉ nói về vài khó khăn trước mắt trong sứ vụ. “Thử thách của tôi”, τοῖς πειρασμοῖς μου, ở đây, theo tôi, là toàn bộ cuộc “xuống thế” của ngài để bước vào điều kiện hữu hạn của con người: bị hiểu lầm, bị chống đối, bị cô đơn, bị phản bội, bị bỏ rơi, và cuối cùng đi vào cái chết. Nói cách khác, πειρασμός của Đức Ki-tô không chỉ là “bị cám dỗ”. Nó là cuộc đối đầu giữa Nước Thiên Chúa và toàn bộ tình trạng sa ngã của vũ trụ. Và các môn đệ được khen không phải vì họ “thành công” mà vì họ ở lại.

Điều này rất đẹp. Bởi trong đời sống đức tin, có lẽ sự trung tín không nằm ở ánh sáng quang vinh mà ở chỗ vẫn ở lại khi bóng tối phủ xuống. Các sứ đồ lúc ấy chưa hiểu gì nhiều. Họ vẫn tranh cãi ai lớn hơn ai. Họ vẫn sẽ bỏ chạy. Petros vẫn sẽ chối thầy mình. Nhưng Loukas vẫn ghi lại lời này của Đức Ki-tô: “anh em là những người ở lại với tôi trong thử thách của tôi.”

Có thể nói, ở đây Ki-tô giáo trình bày một nhân học rất khác với nhân học của thế giới hiện đại. Con người hiện đại thường xác định bản thân qua năng lực kiểm soát: kiểm soát cảm xúc, kiểm soát tương lai, kiểm soát hệ thống, kiểm soát rủi ro. Trong khi đó, kinh sách Do Thái-Cứu thế xác định con người qua khả năng trung tín giữa thử thách. Không phải quyền năng mà là lòng trung tín, là sự ở lại. Không phải tránh né bóng tối, mà là không đánh mất Thiên Chúa giữa bóng tối. Và vì thế mà lời Đức Ki-tô trên đồi Elaion, “hãy cầu nguyện để anh em không đến với thử thách”, không thể chỉ có nghĩa “hãy cầu nguyện để anh em đừng bị cám dỗ phạm tội.” Điều này đúng. Nhưng chưa đủ. Bởi ngay sau đó là sự sụp đổ gần như toàn diện của các môn đệ. Họ ngủ quên. Họ hoảng loạn. Họ bỏ chạy. Petros chối thầy. Nghĩa là “thử thách” ở đây không còn là chuyện luân lý cá nhân nữa. Nó là giờ phút mà toàn bộ đức tin của họ bị đưa vào vùng khủng hoảng.

phailamgi_Tủ sách J.H. Newman Về chữ “πειρασμός” trong Kinh Lạy Cha và trong Loukas 22_1.jpg


Tôi nghĩ đây là điều mà các giáo phụ đã hiểu rất rõ. Origen nói rằng không ai sống mà tránh khỏi πειρασμός, bởi chính đời sống là nơi thử luyện. Augustine thì phân biệt rất tinh tế giữa thử thách giúp thanh luyện và cám dỗ dẫn đến hủy diệt. Thiên Chúa có thể cho phép cái thứ nhất, nhưng không muốn cái thứ hai. Và vì thế, lời cầu nguyện Ki-tô giáo không phải là lời xin một đời sống không có thử thách, mà là lời xin đừng bị thử thách nuốt chửng. Điều này hoàn toàn khác. Bởi trong não trạng hiện đại, đau khổ thường bị xem như một thứ vô nghĩa cần loại bỏ càng nhanh càng tốt. Nhưng trong truyền thống kinh sách, thử thách thường là nơi sự thật về con người lộ ra. Abraham chỉ thực sự trở thành Abraham sau sự kiện trên núi Moriah. Israel chỉ học biết mình trong sa mạc. Petros chỉ hiểu đức tin của mình sau đêm chối thầy. Và có thể nói, chính giáo hội cũng chỉ thực sự hiểu mình qua các thời kỳ bách hại và khủng hoảng.

Điều này không có nghĩa Ki-tô giáo tôn thờ đau khổ. Không phải thế. Vấn đề không nằm ở đau khổ tự nó, mà ở điều đau khổ phơi bày về con người. Πειρασμός là nơi những ảo tưởng sụp đổ: ảo tưởng về sức mạnh của bản thân, về sự ổn định của thế giới, về khả năng tự cứu mình của con người. Và chính trong sự sụp đổ ấy, đức tin hoặc chết đi, hoặc trở thành thật. Và điều này, theo tôi, vẫn còn nguyên tính thời sự. Bởi con người hiện đại, dù nói rất nhiều về tự do và tiến bộ, thật ra ngày càng yếu đuối trước thử thách. Chúng ta sống trong một nền văn minh cố gắng loại bỏ mọi hình thức đau khổ, cô độc, giới hạn và bất định. Thế giới hiện đại xem đau khổ chủ yếu là hậu quả của thất bại hệ thống, của sự trục trặc tâm lý, của những điều ngẫu nhiên, phi lý và cần loại bỏ. Nhưng nghịch lý là chính lúc ấy con người lại trở nên mong manh hơn bao giờ hết khi khủng hoảng thực sự đến. Trong khi đó, Ki-tô giáo ngay từ đầu đã giả định rằng thử thách sẽ đến. Không phải có thể đến. Mà sẽ đến. Tín hữu Ki-tô giáo nhìn thấy trong thử thách sự mặc khải, sự thanh luyện để trưởng thành. Không phải mọi đau khổ đều cứu độ. Nhưng Ki-tô giáo cũng chưa bao giờ tin rằng đời sống đức tin, hay sự trung tín, có thể trưởng thành mà không đi qua πειρασμός.

Và vì thế, cầu nguyện là cách con người neo mình vào Thiên Chúa giữa thử thách. Bởi cuối cùng, điều đáng sợ nhất không phải là đau khổ. Mà là đánh mất Thiên Chúa giữa đau khổ.

Về phần tôi, mỗi khi đọc câu kinh “đừng dẫn con đến với thử thách”, tôi xin với Chúa điều này: Là điều mà thánh Petros nói với Chúa, trong Tin mừng theo Ioannes, “thưa thầy, thầy biết mọi sự, thầy biết là tôi yêu quý thầy”. Chúa biết là con trung tín, xin đừng dẫn con đến với thử thách, nhưng đừng như con muốn mà là ý muốn của Chúa.​

Ảnh trong bài: Canva
 

Những lời nói dối được xem là "vô hại" có được phép không?

Sống trên đời, không ai thích người khác lừa dối mình dù đó là những lời nói dối "vô hại", nhưng nhiều người vẫn sẵn sàng nói dối vì cho rằng, đó là những lời nói dối không gây hại cho ai, đôi khi còn cần thiết để tránh làm tổn thương mọi người. Vậy, những lời nói dối được cho là "vô hại" có được phép không? 17273 Ảnh: Báo Thanh Niên Lý do khiến người ta nói dối Cần phải xác định rõ, tự nó, nối dối là một hành vi xấu về mặt luân lý. Nhưng nhiều người vẫn cho phép...

Việc cầu nguyện trước mỗi quyết định là gì?

Mỗi khi đứng trước một chọn lựa quan trọng, người Kitô hữu thường được khuyên: “Hãy cầu nguyện về điều đó.” Lời khuyên ấy quen thuộc đến mức đôi khi trở thành một phản xạ trước khi chọn ngành học, đổi công việc, lập gia đình, mua nhà, dấn thân phục vụ hay sử dụng tiền bạc, người ta được nhắc phải đặt quyết định của mình trước mặt Chúa. 17180 Đó là một lời khuyên đúng. Nhưng nếu không hiểu đúng, người tín hữu có thể biến cầu nguyện thành một cách tìm kiếm câu trả lời có sẵn, như thể...

Các Đức Giáo hoàng nói gì về việc vỗ tay trong thánh lễ?

Một trong những vấn nạn liên quan tới phụng vụ được nhiều người đặt ra là: có nên vỗ tay tán thưởng vị linh mục sau một bài giảng hay, một ca đoàn sau một bài hát gây cảm hứng, hay vỗ tay sau nghi thức thánh tẩy, hôn phối…? 17096 Trước tiên, cần khẳng định, chưa có giáo huấn chính thức nào của Giáo hội về vấn đề tế nhị này. Vì vậy, cũng có nhiều khuynh hướng và lối giải thích khác nhau. Dưới đây là lập trường của một số vị lãnh đạo Giáo hội. Trong cuốn Tinh thần Phụng...

Motets and Madrigals

0 lượt xem

Bài viết chờ bạn bình luận

Bên trên