- Chủ đề Author
- #1
Sự kiện "2 người lính Nhật sát hại cha Trương Bửu Diệp" tiếp tục đang là chủ đề bàn luận của nhiều người. Nhiều ý kiến cho rằng, sau ngày 15/8/1945, ngày Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện và bị quân đội Anh giải giới, thì không còn người Nhật nào ở Việt Nam?
Thực tế ra sao? Đây là câu hỏi thú vị, giúp làm rõ hơn câu chuyện "2 lính Nhật sát hại cha Trương Bửu Diệp" và ai mới là "thủ phạm chính"?
Những người “Việt Nam mới” cùng gia đình hồi hương về Nhật năm 1960 – Ảnh tư liệu
Những người "Việt Nam mới" gốc Nhật
Thực tế, vào thời điểm Nhật đầu hàng Đồng Minh, có khoảng 97.000 quân nhân và thường dân Nhật ở Đông Dương. (Christopher E. Goscha: Quân nhân Nhật Bản theo Việt Minh trong những năm đầu kháng chiến, Tạp chí Xưa & Nay số 128, tháng 11- 2002, tr. 7).
Theo Hiệp định Potsdam về việc giải quyết hậu quả chiến tranh thế giới thứ II, quân đội Trung Quốc (Trung Hoa Dân quốc hay còn gọi quân đội Tưởng Giới Thạch) sẽ vào Việt Nam giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra và quân đội Anh giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào.
Tại miền Bắc, do quân đội Tưởng Giới Thạch yếu kém, lỏng lẻo, nên lính Nhật đào ngũ rất nhiều. Tính đến ngày toàn quốc kháng chiến, ngày 19/12/1946, có từ 1 đến 2 ngàn lính Nhật đào ngũ và ở rải rác tại các tỉnh thuộc Trung kỳ và Bắc kỳ.
Khác với miền Bắc, tại miền Nam, vì quân Anh và Pháp nhanh chóng chiếm lại quyền kiểm soát khu vực, nên phần lớn các vụ đào ngũ tại miền Nam xảy ra ngay sau khi Nhật đầu hàng.
Lo sợ phải đối mặt với quân Đồng minh, nhiều binh sĩ Nhật bỏ trốn mà không cần chờ xem quân Anh sẽ xử lý họ ra sao, đặc biệt là những người bị nghi phạm tội ác chiến tranh.
Theo ước tính chỉ có khoảng 600 – 1000 lính Nhật đảo ngũ, ở rải rác tại các tỉnh Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho, Sài Gòn – Chợ Lớn, Biên Hòa và Rạch Giá.
Những người này đều cải trang, thay tên Việt, tham gia lực lượng Việt Minh chống Pháp và được gọi là "những người Việt Nam mới... gốc Nhật".
Dĩ nhiên, không phải tất cả lính Nhật đào ngũ đều tham gia hàng ngũ Việt Minh. Một số – đặc biệt là ở miền Nam, còn làm việc cho các tổ chức quốc gia đối lập như Quốc dân Đảng hay Đại Việt, hoặc hỗ trợ lực lượng của giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, nhưng với số lượng rất nhỏ.
Theo Hiệp định Potsdam về việc giải quyết hậu quả chiến tranh thế giới thứ II, quân đội Trung Quốc (Trung Hoa Dân quốc hay còn gọi quân đội Tưởng Giới Thạch) sẽ vào Việt Nam giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra và quân đội Anh giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào.
Tại miền Bắc, do quân đội Tưởng Giới Thạch yếu kém, lỏng lẻo, nên lính Nhật đào ngũ rất nhiều. Tính đến ngày toàn quốc kháng chiến, ngày 19/12/1946, có từ 1 đến 2 ngàn lính Nhật đào ngũ và ở rải rác tại các tỉnh thuộc Trung kỳ và Bắc kỳ.
Khác với miền Bắc, tại miền Nam, vì quân Anh và Pháp nhanh chóng chiếm lại quyền kiểm soát khu vực, nên phần lớn các vụ đào ngũ tại miền Nam xảy ra ngay sau khi Nhật đầu hàng.
Lo sợ phải đối mặt với quân Đồng minh, nhiều binh sĩ Nhật bỏ trốn mà không cần chờ xem quân Anh sẽ xử lý họ ra sao, đặc biệt là những người bị nghi phạm tội ác chiến tranh.
Theo ước tính chỉ có khoảng 600 – 1000 lính Nhật đảo ngũ, ở rải rác tại các tỉnh Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho, Sài Gòn – Chợ Lớn, Biên Hòa và Rạch Giá.
Những người này đều cải trang, thay tên Việt, tham gia lực lượng Việt Minh chống Pháp và được gọi là "những người Việt Nam mới... gốc Nhật".
Dĩ nhiên, không phải tất cả lính Nhật đào ngũ đều tham gia hàng ngũ Việt Minh. Một số – đặc biệt là ở miền Nam, còn làm việc cho các tổ chức quốc gia đối lập như Quốc dân Đảng hay Đại Việt, hoặc hỗ trợ lực lượng của giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, nhưng với số lượng rất nhỏ.
Một sĩ quan Việt Minh gốc Nhật (đeo kính) chiến đấu tại “Việt Nam học xá”, mùa đông năm 1946
Lý do đào ngũ và tham gia lực lượng Việt Minh
Có nhiều lý do khiến những người lính này đào ngũ và ở lại giúp quân đội Việt Minh trong những ngày đầu thành lập.
Các tài liệu nghiên cứu đều cho thấy, ngoài nỗi sợ trở thành tù binh, bị xét xử và bị xử tử, hay phải trở về với một nước Nhật tan hoang sau chiến tranh, nghèo đói, thì việc "đào ngũ và gia nhập lực lượng Việt Minh" là chọn lựa lý tưởng, vừa đáp ứng được "khát vọng chống lại Tây phương của người Nhật", vừa bảo toàn được mạng sống và còn được tôn trọng.
Thực tế, vào thời điểm đó, quân đội Việt Minh vừa được thành lập, nên còn yếu và đặc biệt thiếu người có khả năng vận hành các ngành công nghiệp, quản lý, hoặc huấn luyện quân sự, trong khi những người lính Nhật lại am tường những điều này…
Vì thế, họ nghiễm nhiên trở thành một "tài sản chiến lược" mà Việt Minh đang cần, nên nhiều lính Nhật đã được Việt Minh chèo kéo, thuyết phục và tuyển dụng.
Thậm chí, một số sĩ quan Nhật còn được tuyển dụng vào làm việc ngay trong Bộ Tham mưu của tướng Nguyễn Bình, chỉ huy quân sự của Việt Minh toàn Nam Bộ.
Sự gia nhập lực lượng Việt Minh, như thế là mối lương duyên "2 bên cùng có lợi". Lính Nhật, không những vừa được trọng dụng, vừa được bảo vệ không bị bắt làm tù binh, mà còn được nể trọng, được bảo đảm một tương lại chính trị vì lúc đó Việt Minh là lực lượng mạnh nhất.
Về phần Việt Minh, họ không chỉ tiếp nhận được một lực lượng có mối thâm thù với Pháp, mà quan trọng, họ có được những người lính, những sĩ quan Nhật, giúp họ huấn luyện kỹ thuật quân sự cho lực lượng quân đội Việt Minh non trẻ.
Các tài liệu nghiên cứu đều cho thấy, ngoài nỗi sợ trở thành tù binh, bị xét xử và bị xử tử, hay phải trở về với một nước Nhật tan hoang sau chiến tranh, nghèo đói, thì việc "đào ngũ và gia nhập lực lượng Việt Minh" là chọn lựa lý tưởng, vừa đáp ứng được "khát vọng chống lại Tây phương của người Nhật", vừa bảo toàn được mạng sống và còn được tôn trọng.
Thực tế, vào thời điểm đó, quân đội Việt Minh vừa được thành lập, nên còn yếu và đặc biệt thiếu người có khả năng vận hành các ngành công nghiệp, quản lý, hoặc huấn luyện quân sự, trong khi những người lính Nhật lại am tường những điều này…
Vì thế, họ nghiễm nhiên trở thành một "tài sản chiến lược" mà Việt Minh đang cần, nên nhiều lính Nhật đã được Việt Minh chèo kéo, thuyết phục và tuyển dụng.
Thậm chí, một số sĩ quan Nhật còn được tuyển dụng vào làm việc ngay trong Bộ Tham mưu của tướng Nguyễn Bình, chỉ huy quân sự của Việt Minh toàn Nam Bộ.
Sự gia nhập lực lượng Việt Minh, như thế là mối lương duyên "2 bên cùng có lợi". Lính Nhật, không những vừa được trọng dụng, vừa được bảo vệ không bị bắt làm tù binh, mà còn được nể trọng, được bảo đảm một tương lại chính trị vì lúc đó Việt Minh là lực lượng mạnh nhất.
Về phần Việt Minh, họ không chỉ tiếp nhận được một lực lượng có mối thâm thù với Pháp, mà quan trọng, họ có được những người lính, những sĩ quan Nhật, giúp họ huấn luyện kỹ thuật quân sự cho lực lượng quân đội Việt Minh non trẻ.
Nhật đảo chính Pháp, chiếm Hà Nội tháng 3/1945
Thay cho lời kết
Như vậy, dù không có được con số chính xác, nhưng rõ ràng, sau khi nhật đầu hàng Đồng Minh, nhiều "lính Nhật đào ngũ" là một sự kiện thực tế, diễn ra không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các quốc gia lân cận.
Tại Việt Nam, đa số "lính Nhật đào ngũ" đều tham gia chống Pháp cùng với lực lượng quân đội Việt Minh. Có người còn giữ những vị trí quân sự quan trọng.
Ngoài ra, cũng có một số lính Nhật đào ngũ đầu quân cho các phe đối lập tại miền Nam hay hỗ trợ cho các nhóm dân quân có khuynh hướng chính trị thuộc giáo phái Cao Đài, hay Hòa Hảo.
Điều này cho phép khẳng định, sự hiện diện của "2 lính Nhật", mang họ Cao, trong đội quân của ông Cao Trường Phát – hay Cao Triều Phát, và ra tay sát hại cha Trương Bửu Diệp, là điều hoàn toàn có thể xảy ra?
Tuy nhiên, dù 2 người lính này có trực tiếp ra tay sát hại cha Diệp, thì cũng không thể qui kết mọi trách nhiệm cho họ. Trái lại, họ thực ra chỉ là "những đao phủ" thi hành mệnh lệnh của những người nắm quyền lực chính trị ít là tại Bạc Liêu khi đó mà thôi?
Tại Việt Nam, đa số "lính Nhật đào ngũ" đều tham gia chống Pháp cùng với lực lượng quân đội Việt Minh. Có người còn giữ những vị trí quân sự quan trọng.
Ngoài ra, cũng có một số lính Nhật đào ngũ đầu quân cho các phe đối lập tại miền Nam hay hỗ trợ cho các nhóm dân quân có khuynh hướng chính trị thuộc giáo phái Cao Đài, hay Hòa Hảo.
Điều này cho phép khẳng định, sự hiện diện của "2 lính Nhật", mang họ Cao, trong đội quân của ông Cao Trường Phát – hay Cao Triều Phát, và ra tay sát hại cha Trương Bửu Diệp, là điều hoàn toàn có thể xảy ra?
Tuy nhiên, dù 2 người lính này có trực tiếp ra tay sát hại cha Diệp, thì cũng không thể qui kết mọi trách nhiệm cho họ. Trái lại, họ thực ra chỉ là "những đao phủ" thi hành mệnh lệnh của những người nắm quyền lực chính trị ít là tại Bạc Liêu khi đó mà thôi?
Ảnh trong bài: Viện nghiên cứu phát triển Phương Đông
