- Chủ đề Author
- #1
Lịch sử Giáo hội Việt Nam giai đoạn 1945-1954 là một giai đoạn đầy biến động với nhiều vị lãnh đạo kiệt xuất, trong đó phải kể đến Đức Giám mục Tađêo Lê Hữu Từ, một nhà ái quốc cương trực. Sự cương trực của ngài thể hiện rõ nhất trong mối quan hệ với Chủ tịch Hồ Chí Minh (từ nay viết tắt HCM), mối quan hệ khởi đi từ sự hợp tác chiến thuật vì độc lập dân tộc đến sự đối đầu gay gắt về ý thức hệ.
Hợp tác chiến thuật
Thực tế, sau Cách mạng tháng Tám, giống như các Giám mục người Việt cùng thời, Đức cha Lê tỏ ra hồ hởi với nền độc lập nước nhà. Ngài không chỉ đã cùng với các Đức cha G.B. Nguyễn Bá Tòng, Đ. Hồ Ngọc Cẩn, M. Ngô Đình Thục, gửi một bức thư cho Đức Piô XII xin ngài ủng hộ nền độc lập, mà còn nhiệt tình ủng hộ chính phủ trong dịp Tuần lễ Vàng, cổ động và tích cực kêu gọi giáo dân tham gia bầu cử Quốc hội khóa I vào ngày 06/1/1946.
Sự nhiệt tình với nền độc lập, nhất là tầm ảnh hưởng của ngài cũng như của giới Công giáo lúc đó đã thu hút sự chú ý của các phe phái, các tổ chức chính trị trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong thực tế, ít lâu sau ngày đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Chủ tịch HCM đã tìm mọi cách tiếp cận với Đức cha Lê.
Ngày 29/10/1945, ngày lễ tấn phong Giám mục của Đức cha Lê, dù không trực tiếp tham dự, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử một phái đoàn cấp cao của chính phủ về Phát Diệm và gửi thư chúc mừng, ca ngợi đạo đức của Đức cha và mong Đức cha lãnh đạo giáo dân phấn đấu giữ gìn quyền tự do, độc lập. ((Đoàn Độc Thư và Xuân Huy, Giám mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm 1945 -1954, Sử liệu Hiện đại 1973, 42 – 44)
Đáp lại tấm thịnh tình của HCM, ngày 6/11/1945, Đức cha Lê cùng phái đoàn Tòa Giám mục Phát Diệm đã tới Bắc Bộ phủ để cám ơn chính phủ cử phái đoàn về dự lễ. Phái đoàn đã được Chủ tịch HCM tiếp đón trọng thị. Dịp này, ông cũng chính thức mời Đức cha Lê vào Hội đống cố vấn của chính phủ và hứa sẽ về thăm Phát Diệm. Mặc dù không mặn mà với lời đề nghị, nhưng Đức cha vẫn nhận lời vì nghĩ rằng lời đề nghị của HCM chỉ là cử chỉ xã giao. (Sđd., tr. 86)
Ngày 25/01/1946, một ngày mùa đồng rét mướt, thực hiên lời hứa, HCM đường đột về thăm Phát Diệm. Tại đây, ông gọi Đức cha Từ là "bạn của tôi" và là một lãnh đạo sáng suốt. Trong chuyến thăm này, một cam kết quan trọng đã được đưa ra: Phát Diệm được công nhận là An toàn khu, có quyền tự quản, có lực lượng an ninh và quân đội riêng, cán bộ Việt Minh không được tùy tiện ra vào nếu không được phép của Tòa Giám mục; đồng thời, trước đông đảo nhân dân lương giáo có mặt HCM chính thức tuyên bố đặt Đức cha Lê làm Cố vấn chính phủ. Kể từ đây, Đức cha Lê chính thức là cố vấn chính phủ và được gọi thâm mật là Đức Cố vấn. (tr. 87)
Sự nhiệt tình với nền độc lập, nhất là tầm ảnh hưởng của ngài cũng như của giới Công giáo lúc đó đã thu hút sự chú ý của các phe phái, các tổ chức chính trị trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong thực tế, ít lâu sau ngày đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Chủ tịch HCM đã tìm mọi cách tiếp cận với Đức cha Lê.
Ngày 29/10/1945, ngày lễ tấn phong Giám mục của Đức cha Lê, dù không trực tiếp tham dự, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử một phái đoàn cấp cao của chính phủ về Phát Diệm và gửi thư chúc mừng, ca ngợi đạo đức của Đức cha và mong Đức cha lãnh đạo giáo dân phấn đấu giữ gìn quyền tự do, độc lập. ((Đoàn Độc Thư và Xuân Huy, Giám mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm 1945 -1954, Sử liệu Hiện đại 1973, 42 – 44)
Đáp lại tấm thịnh tình của HCM, ngày 6/11/1945, Đức cha Lê cùng phái đoàn Tòa Giám mục Phát Diệm đã tới Bắc Bộ phủ để cám ơn chính phủ cử phái đoàn về dự lễ. Phái đoàn đã được Chủ tịch HCM tiếp đón trọng thị. Dịp này, ông cũng chính thức mời Đức cha Lê vào Hội đống cố vấn của chính phủ và hứa sẽ về thăm Phát Diệm. Mặc dù không mặn mà với lời đề nghị, nhưng Đức cha vẫn nhận lời vì nghĩ rằng lời đề nghị của HCM chỉ là cử chỉ xã giao. (Sđd., tr. 86)
Ngày 25/01/1946, một ngày mùa đồng rét mướt, thực hiên lời hứa, HCM đường đột về thăm Phát Diệm. Tại đây, ông gọi Đức cha Từ là "bạn của tôi" và là một lãnh đạo sáng suốt. Trong chuyến thăm này, một cam kết quan trọng đã được đưa ra: Phát Diệm được công nhận là An toàn khu, có quyền tự quản, có lực lượng an ninh và quân đội riêng, cán bộ Việt Minh không được tùy tiện ra vào nếu không được phép của Tòa Giám mục; đồng thời, trước đông đảo nhân dân lương giáo có mặt HCM chính thức tuyên bố đặt Đức cha Lê làm Cố vấn chính phủ. Kể từ đây, Đức cha Lê chính thức là cố vấn chính phủ và được gọi thâm mật là Đức Cố vấn. (tr. 87)
Mâu thuẫn về lập trường chính trị
Sau khi được HCM mời làm cố vấn, Đức cha Lê đã rất tích cực thực hiện nhiệm vụ của mình với mục tiêu dành Độc lập cho tổ quốc và giúp đỡ dân lành.
Ngày 6/3/1946, Hiệp định sơ bộ được ký kết giữa HCM và Sainteny cho phép Pháp vào chiếm đóng Hải Phòng Và Hà Nội. Được tin này, Đức cha Lê đã tức tốc đến Bắc Bộ phủ gặp Chủ tịch HCM. Tại cuộc gặp, Đức cha Lê đã khiển trách Chủ tịch HCM, tự mình phản bội lời thề trong ngày tuyên ngôn độc lập, nay công khai rước thực dân Pháp trở lại.
Trước sự cứng rắn của Đức cha Lê, HCM chỉ còn biết nhún nhường: "Cái thế của mình bây giờ phải quỳ mà tiến tới độc lập, xin cụ cứ tin tôi". (Ibid., 89)
Dù vậy, có thể nói mối quan hệ giữa Đức cha Lê và HCM trong năm 1946 diễn ra khá tốt đẹp, ít nhất là xét bề mặt và trên thượng tầng. Có một chi tiết đáng chú ý, dù ủng hộ độc lập, tôn trọng Chủ tịch HCM, nhưng chưa bao giờ Đức cha Lê cho phép con cái mình chạy theo bất cứ đảng phái nào, nhất là theo những người chủ trương theo Cộng sản giải phóng dân tộc.
Thời gian này, ở Phát Diệm, các đảng phái hoạt động mạnh, như Duy Dân, Dân Tộc, Việt Quốc, Việt Cách, Xã Hội và Nhóm Bảo Hoàng. Dù vậy, để tránh phiền hà, nhất là để tránh VM lợi dụng. ngài chỉ cổ động các giáo dân gia nhập Hội Công giáo Cứu Quốc do chính ngài sáng lập.
Các tài liệu cho thấy, mối quan hệ giữa 2 người chỉ bắt đầu trở nên căng thẳng khi những khác biệt về ý thức hệ và quan điểm về các hiệp định ngoại giao xuất hiện.
Ngày 27/5/1946, nhân dịp HCM sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau, Đức cha Lê đã cử lm. Nguyễn Gia Đệ ra sân bay Gia Lâm tiễn đoàn. Cuộc đàm phán đổ bể, để gỡ thể diện, đêm 14/9/1946, HCM đã đến tư dinh của ông Bộ trưởng Hải ngoại Marius Moutet, lén ký bản Tạm ước. Nội dung Tạm ước không khác gì với Hiệp ước Sơ Bộ ngày 6/3/1946.
Sự độc lập chưa thấy, chỉ thấy Pháp quay lại và chiếm dần các thành phố. Miền Bắc được chia thành các vùng Tề - thuộc Pháp và vùng kháng chiến – Việt Minh. Phát Diệm thuộc vùng kháng chiến nên thuộc Việt Minh, mà Việt Minh là cộng sản, nên Đức cha Lê cũng bị Pháp, các Bề trên Giáo phận và các thành phần quốc gia cho là theo Cộng sản, buộc ngài phải đi các giáo phận để giải độc.
Ngày 24/10/1946, nhân dịp tới một số giáo phận như Hải Phòng, Hà Nội, để giải độc, với tư cách Cố vấn, Đức cha Lê Hữu Từ đã tới Hà Nội gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh để phản đối kịch liệt việc ký Tạm ước (14/09/1946), vì cho rằng những văn bản này bất lợi cho độc lập của Việt Nam và cho phép quân Pháp trở lại miền Bắc. Đáp lại những khiển trách của Đức cha, Chủ tịch HCM tiếp tục nhún nhường: "Thưa cụ, như tôi đã nói với cụ lần trước rằng cái thế của mình phải quỳ mà đi tới độc lập, nay cái thế ấy bắt buộc ta phải bò để đi đến độc lập, xin cụ tin tôi" (Ibid., 95)
Ngày 6/3/1946, Hiệp định sơ bộ được ký kết giữa HCM và Sainteny cho phép Pháp vào chiếm đóng Hải Phòng Và Hà Nội. Được tin này, Đức cha Lê đã tức tốc đến Bắc Bộ phủ gặp Chủ tịch HCM. Tại cuộc gặp, Đức cha Lê đã khiển trách Chủ tịch HCM, tự mình phản bội lời thề trong ngày tuyên ngôn độc lập, nay công khai rước thực dân Pháp trở lại.
Trước sự cứng rắn của Đức cha Lê, HCM chỉ còn biết nhún nhường: "Cái thế của mình bây giờ phải quỳ mà tiến tới độc lập, xin cụ cứ tin tôi". (Ibid., 89)
Dù vậy, có thể nói mối quan hệ giữa Đức cha Lê và HCM trong năm 1946 diễn ra khá tốt đẹp, ít nhất là xét bề mặt và trên thượng tầng. Có một chi tiết đáng chú ý, dù ủng hộ độc lập, tôn trọng Chủ tịch HCM, nhưng chưa bao giờ Đức cha Lê cho phép con cái mình chạy theo bất cứ đảng phái nào, nhất là theo những người chủ trương theo Cộng sản giải phóng dân tộc.
Thời gian này, ở Phát Diệm, các đảng phái hoạt động mạnh, như Duy Dân, Dân Tộc, Việt Quốc, Việt Cách, Xã Hội và Nhóm Bảo Hoàng. Dù vậy, để tránh phiền hà, nhất là để tránh VM lợi dụng. ngài chỉ cổ động các giáo dân gia nhập Hội Công giáo Cứu Quốc do chính ngài sáng lập.
Các tài liệu cho thấy, mối quan hệ giữa 2 người chỉ bắt đầu trở nên căng thẳng khi những khác biệt về ý thức hệ và quan điểm về các hiệp định ngoại giao xuất hiện.
Ngày 27/5/1946, nhân dịp HCM sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau, Đức cha Lê đã cử lm. Nguyễn Gia Đệ ra sân bay Gia Lâm tiễn đoàn. Cuộc đàm phán đổ bể, để gỡ thể diện, đêm 14/9/1946, HCM đã đến tư dinh của ông Bộ trưởng Hải ngoại Marius Moutet, lén ký bản Tạm ước. Nội dung Tạm ước không khác gì với Hiệp ước Sơ Bộ ngày 6/3/1946.
Sự độc lập chưa thấy, chỉ thấy Pháp quay lại và chiếm dần các thành phố. Miền Bắc được chia thành các vùng Tề - thuộc Pháp và vùng kháng chiến – Việt Minh. Phát Diệm thuộc vùng kháng chiến nên thuộc Việt Minh, mà Việt Minh là cộng sản, nên Đức cha Lê cũng bị Pháp, các Bề trên Giáo phận và các thành phần quốc gia cho là theo Cộng sản, buộc ngài phải đi các giáo phận để giải độc.
Ngày 24/10/1946, nhân dịp tới một số giáo phận như Hải Phòng, Hà Nội, để giải độc, với tư cách Cố vấn, Đức cha Lê Hữu Từ đã tới Hà Nội gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh để phản đối kịch liệt việc ký Tạm ước (14/09/1946), vì cho rằng những văn bản này bất lợi cho độc lập của Việt Nam và cho phép quân Pháp trở lại miền Bắc. Đáp lại những khiển trách của Đức cha, Chủ tịch HCM tiếp tục nhún nhường: "Thưa cụ, như tôi đã nói với cụ lần trước rằng cái thế của mình phải quỳ mà đi tới độc lập, nay cái thế ấy bắt buộc ta phải bò để đi đến độc lập, xin cụ tin tôi" (Ibid., 95)
Đối đầu trực diện và tan vỡ
Hai tháng sau, ngày 19/12/1946, HCM kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Chỉ một thời gian ngắn, Phát Diệm có khoảng 5.000 người bị bắt đa số là các ông câu ông biện, ông trùm. Đức cha Lê đã nhiều lần gửi thư phản đối việc bắt bớ, yêu cầu trả tự do cho người vô tội, đồng thời, kịch liệt phản đối hành động tịch thu tài sản, cũng như chính sách "tiêu thổ kháng chiến", "cưỡng bách tản cư" do Việt Minh phát động.
Việc làm này đã kinh động tới Chủ tịch HCM, ngày 4/2/1947, ông liền cử Vũ Đình Huỳnh, thư ký riêng, cùng với ông Đỗ Bá, nhân viên Bộ Quốc phòng, về thăm, xin lỗi Đức Cố vấn, cùng với lệnh trả tự do cho những người bị bắt.
Ngày 7/2/1947, chưa yên tâm HCM tiếp tục cử linh mục Nguyễn Bá Trực, phó Chủ tịch thường trực của Quốc hội, cầm theo lá thư của ông gửi Đức cha Lê. Nội dung lá thư cho biết việc bắt bớ đáng tiếc vừa qua là do hiểu lầm, hoàn toàn không phải chủ trương của chính phủ. Vì thế, ông mong Đức cha Lê tiếp tục hợp tác vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân. (x. Thư của Chủ tịch HCM, sđd., 111)
Như vậy, chỉ trong vòng 1 tuần HCM đã hai lần gửi thư và cử người thân tín về Phát Diệm, vì sau khi tuyên chiến với Pháp, ông biết Đức cha Lê là người theo chủ nghĩa dân tộc chống Pháp, nên ông cần sự ủng hộ của Đức cha.
Ngược lại, càng ngày Đức cha Lê càng thu thập được nhiều chứng cớ chứng minh Việt Minh đích thị là Cộng sản. Từ đó, một mặt ngài chủ chương kháng chiến chống thực dân, đồng thời cảnh giác dân chúng không sa vào họa cộng sản. Thời gian này, ngài cho thành lập Phòng Thông tin Tuyên truyền Công giáo Cứu Quốc Phát Diệm, phát hành báo Tiếng Kêu. Những tiếng nói thẳng thắn của Đức Cố vấn trên báo Tiếng Kêu đã buộc HCM phải gửi một lá thư đề ngày 2/3/1947, khẳng định dư luận cho rằng "chính phủ là Cộng sản" chỉ là tin đồn, vì nếu là Cộng sản sao "trong chính phủ lại có cụ là cố vấn tối cao" (Sđd., 126).
Dù vậy, trong lá thư luân lưu số 22, ngày 25/9/1947, gửi cộng đồng dân Chúa, Đức cha Lê tiếp tục mời gọi các linh mục, tu sĩ và giáo dân "phải tùng phục và kính trọng chính phủ nơi các viên chức địa phương, hết lòng hợp tác trong những công việc có lợi cho tổ quốc" (Sđd., 152)
Ngày 20/12/1947, HCM về Nho Quan, tổ chức Hội nghị Điền thổ, nhằm cổ động chiến dịch tiêu thổ kháng chiến. Đức cha Lê được mời tham dự. Vừa gặp Đức cha, Chủ tịch HCM tỏ ra vồn vã cách thái quá, một tay bắt, một tay choàng, má áp mặt; tay bắt xiết chặt, tay choàng vỗ vào lưng kêu bộp, miệng không ngớt thốt lên: 'Tôi nhớ cụ quá." (Sđd., 160) Sau đó trong cuộc gặp riêng, Hồ Chủ tịch còn xin được chịu phép rửa tội, khiến Đức cha Lê phải nín cười kẻo thất lễ.
Sau Hội nghị này, lấy danh nghĩa Cố Vấn, Đức cha Lê đã đi khắp các giáo phận Phát Diệm, Bùi Chu, Thanh Hóa để ủy lạo dân chúng, nhất là kêu gọi dân chúng chống "tiêu thổ kháng chiến". Việc làm của ngài đã buộc VM phải tìm cách ngăn cản. Ít nhất – theo hồi ký ngài ghi lại, 3 lần ngài phải đối diện với âm mưu thủ tiêu, nhưng nhờ ơn Chúa ngài đã thoát nạn. (x. tr. 183)
Dù vậy, trong một chỉ thị ngày 14/8/1948, ngoài việc chỉ thị cho các linh mục phải đề phòng những người trà trộn gây rối, Đức cha còn khuyến khích các hội đoàn tích cực thực hiện phong trào thi đua yêu nước do chính phủ phát động (x. Sđd., 192-193)
Ngày 18/3/1949, tướng Hoàng Sâm và ông Chủ tịch Liên Khu III về thăm Phát Diệm đề nghị Đức cha Lê và giáo dân tản cư vào khu IV cùng chính phủ chống thực dân, nhưng Đức cha không những không đồng ý mà còn đề nghị chính phủ, cách riêng Hồ Chủ tịch cho Phát Diệm – Bùi Chu thành khu tự trị như khu Tự trị Thái Mèo, thì tự khắc Pháp sẽ không làm gì Phát Diệm, vì Pháp đánh Phát Diệm chỉ vì Phát Diệm có VM.
Kể từ đây, HCM cắt đứt mọi quan hệ với Đức cha Lê và bắt đầu sử dụng báo chí đả kích Công giáo bằng mặt trận Văn Hóa. Đáp lại, Đức cha Lê đã biên soạn hàng loạt thư luân lưu gửi tới 2 giáo phận Bùi Chu – nơi ngài làm Giám quản từ sau cái chết của Đức cha Cẩn và Phát Diệm, trực tiếp đề cập tới chủ nghĩa cộng sản, lên án chủ nghĩa cộng sản là vô thần, không phù hợp với Đức tin công giáo.
Sự đối đầu gia tăng đến mức đoạn tuyệt, khi Đức cha Lê chính thức ủng hộ giải pháp Bảo Đại và chính phủ Quốc gia, nhất là khi cựu hoàng Bảo Đại đưa quân đội Liên Hiệp nhảy dù xuống Phát Diệm ngày 16/10/1949.
Tóm lại, dù ban đầu có sự trân trọng và nỗ lực cùng đoàn kết để chống thực dân giành nền độc lập cho nước nhà, nhưng sự khác biệt không thể dung hòa giữa đức tin tôn giáo/lập trường quốc gia và ý thức hệ cộng sản đã biến họ từ đồng nghiệp trong chính phủ thành đối thủ không đội trời chung trong cuộc chiến Đông Dương sau này.
Việc làm này đã kinh động tới Chủ tịch HCM, ngày 4/2/1947, ông liền cử Vũ Đình Huỳnh, thư ký riêng, cùng với ông Đỗ Bá, nhân viên Bộ Quốc phòng, về thăm, xin lỗi Đức Cố vấn, cùng với lệnh trả tự do cho những người bị bắt.
Ngày 7/2/1947, chưa yên tâm HCM tiếp tục cử linh mục Nguyễn Bá Trực, phó Chủ tịch thường trực của Quốc hội, cầm theo lá thư của ông gửi Đức cha Lê. Nội dung lá thư cho biết việc bắt bớ đáng tiếc vừa qua là do hiểu lầm, hoàn toàn không phải chủ trương của chính phủ. Vì thế, ông mong Đức cha Lê tiếp tục hợp tác vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân. (x. Thư của Chủ tịch HCM, sđd., 111)
Như vậy, chỉ trong vòng 1 tuần HCM đã hai lần gửi thư và cử người thân tín về Phát Diệm, vì sau khi tuyên chiến với Pháp, ông biết Đức cha Lê là người theo chủ nghĩa dân tộc chống Pháp, nên ông cần sự ủng hộ của Đức cha.
Ngược lại, càng ngày Đức cha Lê càng thu thập được nhiều chứng cớ chứng minh Việt Minh đích thị là Cộng sản. Từ đó, một mặt ngài chủ chương kháng chiến chống thực dân, đồng thời cảnh giác dân chúng không sa vào họa cộng sản. Thời gian này, ngài cho thành lập Phòng Thông tin Tuyên truyền Công giáo Cứu Quốc Phát Diệm, phát hành báo Tiếng Kêu. Những tiếng nói thẳng thắn của Đức Cố vấn trên báo Tiếng Kêu đã buộc HCM phải gửi một lá thư đề ngày 2/3/1947, khẳng định dư luận cho rằng "chính phủ là Cộng sản" chỉ là tin đồn, vì nếu là Cộng sản sao "trong chính phủ lại có cụ là cố vấn tối cao" (Sđd., 126).
Dù vậy, trong lá thư luân lưu số 22, ngày 25/9/1947, gửi cộng đồng dân Chúa, Đức cha Lê tiếp tục mời gọi các linh mục, tu sĩ và giáo dân "phải tùng phục và kính trọng chính phủ nơi các viên chức địa phương, hết lòng hợp tác trong những công việc có lợi cho tổ quốc" (Sđd., 152)
Ngày 20/12/1947, HCM về Nho Quan, tổ chức Hội nghị Điền thổ, nhằm cổ động chiến dịch tiêu thổ kháng chiến. Đức cha Lê được mời tham dự. Vừa gặp Đức cha, Chủ tịch HCM tỏ ra vồn vã cách thái quá, một tay bắt, một tay choàng, má áp mặt; tay bắt xiết chặt, tay choàng vỗ vào lưng kêu bộp, miệng không ngớt thốt lên: 'Tôi nhớ cụ quá." (Sđd., 160) Sau đó trong cuộc gặp riêng, Hồ Chủ tịch còn xin được chịu phép rửa tội, khiến Đức cha Lê phải nín cười kẻo thất lễ.
Sau Hội nghị này, lấy danh nghĩa Cố Vấn, Đức cha Lê đã đi khắp các giáo phận Phát Diệm, Bùi Chu, Thanh Hóa để ủy lạo dân chúng, nhất là kêu gọi dân chúng chống "tiêu thổ kháng chiến". Việc làm của ngài đã buộc VM phải tìm cách ngăn cản. Ít nhất – theo hồi ký ngài ghi lại, 3 lần ngài phải đối diện với âm mưu thủ tiêu, nhưng nhờ ơn Chúa ngài đã thoát nạn. (x. tr. 183)
Dù vậy, trong một chỉ thị ngày 14/8/1948, ngoài việc chỉ thị cho các linh mục phải đề phòng những người trà trộn gây rối, Đức cha còn khuyến khích các hội đoàn tích cực thực hiện phong trào thi đua yêu nước do chính phủ phát động (x. Sđd., 192-193)
Ngày 18/3/1949, tướng Hoàng Sâm và ông Chủ tịch Liên Khu III về thăm Phát Diệm đề nghị Đức cha Lê và giáo dân tản cư vào khu IV cùng chính phủ chống thực dân, nhưng Đức cha không những không đồng ý mà còn đề nghị chính phủ, cách riêng Hồ Chủ tịch cho Phát Diệm – Bùi Chu thành khu tự trị như khu Tự trị Thái Mèo, thì tự khắc Pháp sẽ không làm gì Phát Diệm, vì Pháp đánh Phát Diệm chỉ vì Phát Diệm có VM.
Kể từ đây, HCM cắt đứt mọi quan hệ với Đức cha Lê và bắt đầu sử dụng báo chí đả kích Công giáo bằng mặt trận Văn Hóa. Đáp lại, Đức cha Lê đã biên soạn hàng loạt thư luân lưu gửi tới 2 giáo phận Bùi Chu – nơi ngài làm Giám quản từ sau cái chết của Đức cha Cẩn và Phát Diệm, trực tiếp đề cập tới chủ nghĩa cộng sản, lên án chủ nghĩa cộng sản là vô thần, không phù hợp với Đức tin công giáo.
Sự đối đầu gia tăng đến mức đoạn tuyệt, khi Đức cha Lê chính thức ủng hộ giải pháp Bảo Đại và chính phủ Quốc gia, nhất là khi cựu hoàng Bảo Đại đưa quân đội Liên Hiệp nhảy dù xuống Phát Diệm ngày 16/10/1949.
Tóm lại, dù ban đầu có sự trân trọng và nỗ lực cùng đoàn kết để chống thực dân giành nền độc lập cho nước nhà, nhưng sự khác biệt không thể dung hòa giữa đức tin tôn giáo/lập trường quốc gia và ý thức hệ cộng sản đã biến họ từ đồng nghiệp trong chính phủ thành đối thủ không đội trời chung trong cuộc chiến Đông Dương sau này.
Lm. Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong, C.Ss.R.
Cùng chủ đề
