Thành viên
Tham gia
15/10/25
Bài viết
63

Tôi muốn mượn lại cái tựa đề “Hãy cẩn trọng với sự cám dỗ thế tục”, trong bài phản hồi đầu tiên của tôi cho một bài viết trên diễn đàn này phê phán Thư chung 2005 của Hội đồng Giám mục mời gọi truyền báo tin mừng, để chia sẻ một tài liệu quan trọng của Bộ Giáo lý Đức tin lúc Hồng y Ratzinger, người về sau là Đức Giáo tông Benedict XVI, còn là tổng trưởng dưới triều của Đức Giáo tông John Paul II, năm 1984.​


Phailamgi_Hãy cẩn trọng với sự cám dỗ thế tục trường hợp thần học giải phóng_cv.jpeg

Kitô hữu Ấn Độ (AFP or licensors)

Sự cám dỗ thế tục, hiểu theo nghĩa đơn giản nhất của nó, là cám dỗ của sự thuận tiện trong việc vận dụng không chọn lọc, không suy xét những hệ thống tư duy, những tập quán văn hóa bên ngoài truyền thống của giáo hội vào trong đời sống phụng vụ và truyền báo tin mừng. Trong vài trường hợp hệ trọng hơn, như trường hợp thần học giải phóng, một khuynh hướng thần học pha trộn sự quan tâm đến người nghèo trong truyền thống của giáo hội với luận thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Marxist xuất hiện ở Nam Mỹ nửa sau thế kỷ 20, như Hồng y Ratzinger chỉ ra, sự vận dụng này có nguy cơ khuynh loát và làm lu mờ những giáo huấn nền tảng của giáo hội.

Việc vận dụng các truyền thống tư duy bên ngoài để làm sáng tỏ giáo lý và đức tin xuất hiện ngay từ những ngày đầu của giáo hội tiên khởi. Chưa đầy ba mươi năm sau sự kiện Chúa Giê-su bị quyền lực La Mã và Do Thái đóng đinh trên thập giá ở Jerusalem, thánh Phao-lô đứng giữa đồi Areios ở Athen, trung tâm triết học của thế giới cổ đại, đối chất với các triết gia Duy lạc và Hành lang-Khắc kỷ, “các ông thờ phụng đấng các ông không biết; tôi công bố với các ông đấng ấy” (Công vụ 17:23). Phao-lô không dẫn Cựu Ước, vì dân ngoại không có Cựu Ước, ngài cũng không dẫn Tân Ước — vì ngài đang viết những tín thư về sau đi vào Tân Ước, mà dẫn Aratus, một triết gia-thi sĩ đồng hương xứ Tarsos, “như một thi hào giữa các ông cũng đã nói, vì chúng ta cũng là con cái của ngài” (Công vụ 17:28). Câu chuyện Loukas ghi lại cho thấy, không cần phải đợi đến các thế hệ hậu-tông đồ — các thế hệ tông phụ và giáo phụ ở các thế kỷ sau, ngay từ đầu, bên cạnh tín lý và phụng vụ, triết học là một phần không thể tách rời của việc truyền báo tin mừng. Truyền thống này tiếp tục với Augustine và triết học tân-Platon, Thomas Aquinas và Aristotle, cho đến thời đại của chúng ta, dù ít được biết đến hơn, như với John Paul II và hiện tượng luận. Trong mỗi trường hợp như thế, nguyên tắc mà Augustine đề ra trong trước tác Về giáo lý Ki-tô giáo (De Doctrina Christiana), rằng điều gì hỗ trợ cho giáo lý và đức tin thì giữ, điều gì trái với giáo lý và đức tin thì loại bỏ, luôn được tôn trọng. Ratzinger phê phán thần học giải phóng ở chính điểm vận dụng triết học Marxist không chọn lọc, không suy xét này.

Cũng như việc vận dụng triết học trong truyền báo tin mừng, việc lo cho người nghèo nằm trong huyết quản của truyền thống giáo hội. Chúa Giê-su trong các sách Tin mừng dạy như thế. Thánh Phao-lô kể lại trong thư gởi các tín hữu ở Galatia rằng Iakobos và những người cột trụ của giáo hội ở Jerusalem đã dặn dò ngài như thế. Và đến lượt ngài, chính ngài cũng làm như thế, sau những chuyến đi truyền giáo ở Cận Đông, lúc về lại Jerusalem, đem theo những khoản tiền quyên góp được cho người nghèo ở đó. Thánh Basil, một trong những giáo phụ của giáo hội, lập cái mà chúng ta ngày này gọi là bệnh viện đầu tiên trong lịch sử nhân loại là để lo cho người nghèo. Ở thời điểm này, giáo hội vẫn là tổ chức từ thiện lớn nhất thế giới. Để thấy, lo cho người nghèo thuộc về đời sống đức tin Ki-tô giáo, như tông huấn Dilexi Te nhắc nhở. Vấn đề đối với thần học giải phóng không phải là ở việc lo cho người nghèo mà ở việc đặt nó trên nền tảng của truyền thống tư duy nào. Đây là điểm mà Hồng y Ratzinger nhấn mạnh.

Nhầm lẫn lớn nhất của các hệ thống tư duy hiện đại, kể cả chủ nghĩa Marxist và đặc biệt là với chủ nghĩa Marxist, trong cố gắng đưa ra giải pháp cho bất công xã hội, trong đó có sự nghèo khó, là cho rằng nguồn gốc của bất công xã hội là ở cấu trúc xã hội và chỉ cần phá bỏ những cấu trúc tạo nên bất công này, bằng bạo lực nếu cần thiết, thì bất công xã hội sẽ biến mất. Nhầm lẫn này đi ra từ những khái niệm nhân học giản lược, và do đó lệch lạc, của tư duy hiện đại. Con người trong khái niệm của các hệ thống tư duy hiện đại này là một loại con người lý tính trừu tượng, tự cho mình, chỉ bởi lý tính, có khả năng thăng hoa độc lập với đấng sáng tạo ra họ — ngay cả khi họ thừa nhận một đấng sáng tạo như thế, và trong trường hợp của chủ nghĩa duy vật Marxist thì không.


Có thể nói, những khủng hoảng của thế giới hiện đại, từ bất công, đói nghèo đến ma túy, bạo lực, đều có thể truy về sự nhầm lẫn của loại nhân học từ chối đấng sáng tạo này. Và cũng có thể nói, bất đồng giữa những người có đức tin ở Đức Ki-tô với các hệ thống tư duy hiện đại trong các vấn đề công lý xã hội đều có thể truy về sự nhầm lẫn này; những người có đức tin ở Đức Ki-tô không đồng ý với những quan niệm cho rằng con người chỉ là những thực thế lý tính trừu tượng và bị giản lược như thế. Với chúng ta, những người có đức tin ở Đức Ki-tô, con người mang trong họ hình ảnh Thiên Chúa, nghĩa là họ mang trong họ hạt mầm chân-thiện-mỹ cao nhất và được mời gọi hướng đến những lý tưởng đó. Nhưng con người, bởi ý chí tự do, đã chọn trở nên lầm lạc mà chỉ có Thiên Chúa, qua Đức Ki-tô, mới có thể giải thoát con người ra khỏi sự lầm lạc đó.

Điều này có nghĩa là, chỉ ở trong sự thờ phụng Thiên Chúa, chỉ ở trong mối quan hệ trung tín trong giao ước với Thiên Chúa thì con người mới có khả năng tiếp cận sự hoàn hảo mà họ được mời gọi. Điều này có nghĩa là, bất cứ giải pháp nào mà con người đưa ra để giải quyết các vấn đề công lý xã hội mà ở đó thiếu vắng Thiên Chúa thì giải pháp đó chỉ là ảo tưởng, và trong nhiều trường hợp đưa đến thảm họa. Con người phải thường trực hướng đến sự hoàn hảo của cá nhân họ mới mong họ thiết kế ra những cấu trúc xã hội bảo đảm công lý. Những người có đức tin ở Đức Ki-tô thừa nhận sự tồn tại của cấu trúc xã hội như những cơ chế duy trì bất công là có thật và chúng cần được tháo gỡ nhưng không tin rằng cấu trúc xã hội là nguyên nhân của bất công. Bất công sinh ra từ trong lầm lạc của con người, từ trong quan hệ bất tín trong giao ước với Thiên Chúa. Việc tháo gỡ cấu trúc xã hội bất công chỉ có ý nghĩa trong tương quan với cố gắng hồi tâm chuyển hóa của cá nhân trước lầm lạc của họ. Từ đó, công việc vận động cho công lý xã hội phải đặt trên nền tảng của sự hồi tâm này, thay vì trên các luận thuyết về cấu trúc xã hội.

Trong tài liệu “Hướng dẫn về vài khía cạnh của Thần học giải phóng” của Bộ Giáo lý Đức tin, năm 1984, tài liệu mà bài viết này mong muốn được giới thiệu, Hồng y Ratzinger cảnh báo về nguy cơ tin mừng bị bóp méo khi đặt sự giải phóng qua các định chế kinh tế và chính trị trên sự giải phóng khỏi lầm lạc. Việc vay mượn các luận điểm đấu tranh giai cấp hay cấu trúc xã hội của triết học Marxist và xem chúng tương thích với giáo lý Ki-tô giáo đưa đến những “thuyên diễn mới” về Ki-tô giáo bằng cách chính trị hóa Tin mừng, diễn giải ân điển theo nghĩa giải phóng về phương diện chính trị xã hội, giản lược Đức Ki-tô thành biểu tưởng đấu tranh của tầng lớp bị áp bức, biến giáo hội thành công cụ đấu tranh giai cấp, Thánh thể thành lễ cữ hành của quần chúng đấu tranh. Giáo hội hoàn vũ trở thành giáo hội của giai cấp vô sản.

Phailamgi_Hãy cẩn trọng với sự cám dỗ thế tục trường hợp thần học giải phóng_cv1.jpeg
Dòng Nữ tu Phanxicô Truyền giáo Đức Mẹ đang dang tay chăm sóc các trẻ em sống trong những khu vực nghèo khó. Ảnh: Vatican News

Tài liệu đưa ra những hướng dẫn, rằng giáo hội phải đồng hành với người nghèo bằng sự chân thành, sự cẩn trọng, bằng trí tuệ và sự dấn thân cho việc loan báo Tin mừng. Các nhà thần học phải làm việc trong sự hiệp thông với Huấn quyền và duy trì ba trụ cột của bất kỳ nền thần học giải phóng đích thực nào: chân lý về Đức Giê-su Ki-tô, chân lý về giáo hội, và chân lý về con người cùng phẩm giá của họ. Tài liệu khẳng định rằng các cải cách xã hội, kinh tế, và chính trị là cấp thiết, nhưng phải được đặt nền tảng trên giáo lý đúng đắn về con người và sự lầm lạc, mời gọi sự hồi tâm hơn là chỉ thay đổi cấu trúc xã hội bằng cách mạng. Nó cảnh báo chống lại bạo lực, đấu tranh giai cấp như là một “quy luật của lịch sử”, và ảo tưởng cho rằng chỉ cần những cấu trúc xã hội mới là đủ để tạo ra những con người mới.

Hai năm sau, 1986, Bộ Giáo lý Đức tin có một huấn thị khác, liên quan, mang tựa đề “Hướng dẫn về [khái niệm] tự do và giải phóng của Ki-tô giáo”, trong đó những quan tâm chính của thần học giải phóng được xác định lại trên nền tảng giáo lý. Những gương mặt khai sinh thần học giải phóng trong giáo hội ở Nam Mỹ cũng đã làm hòa với giáo hội, sau khi đã “thanh tẩy” các yếu tố triết học Marxist. Nhưng bài học về thần học giải phóng vẫn còn nguyên vẹn đối với những đòi hỏi, như cách tác giả bài viết phê phán Thư chung của Hội đồng Giám mục, nói đến ở trên, đặt ra trong bài hồi đáp, trích, là “làm sao tách rời chuyện tìm kiếm công lý xã hội với việc loan báo Tin mừng”. Thực ra, nếu việc tìm kiếm công lý xã hội được đặt trên nền tảng tin mừng (và như thế thì không còn lý do để phê phán việc truyền báo tin mừng — nội dung của Thư chung) thì không cần phải tách. Vấn đề chỉ trở nên rối rắm khi xuất hiện sự cám dỗ thế tục của sự thuận tiện về luận cứ trong việc vận dụng các hệ thống tư duy bên ngoài truyền thống của giáo hội để làm sáng tỏ giáo lý và đức tin. Việc “thanh tẩy” những yếu tố không tương thích và đặt nhu cầu công lý xã hội nền tảng tin mừng không giới hạn ở chủ nghĩa Marxist mà còn đối với những hệ thống tư tưởng thế tục khác, như chủ nghĩa Tự do (libralism) chẳng hạn.​
 

Những lời nói dối được xem là "vô hại" có được phép không?

Sống trên đời, không ai thích người khác lừa dối mình dù đó là những lời nói dối "vô hại", nhưng nhiều người vẫn sẵn sàng nói dối vì cho rằng, đó là những lời nói dối không gây hại cho ai, đôi khi còn cần thiết để tránh làm tổn thương mọi người. Vậy, những lời nói dối được cho là "vô hại" có được phép không? 17273 Ảnh: Báo Thanh Niên Lý do khiến người ta nói dối Cần phải xác định rõ, tự nó, nối dối là một hành vi xấu về mặt luân lý. Nhưng nhiều người vẫn cho phép...

Việc cầu nguyện trước mỗi quyết định là gì?

Mỗi khi đứng trước một chọn lựa quan trọng, người Kitô hữu thường được khuyên: “Hãy cầu nguyện về điều đó.” Lời khuyên ấy quen thuộc đến mức đôi khi trở thành một phản xạ trước khi chọn ngành học, đổi công việc, lập gia đình, mua nhà, dấn thân phục vụ hay sử dụng tiền bạc, người ta được nhắc phải đặt quyết định của mình trước mặt Chúa. 17180 Đó là một lời khuyên đúng. Nhưng nếu không hiểu đúng, người tín hữu có thể biến cầu nguyện thành một cách tìm kiếm câu trả lời có sẵn, như thể...

Các Đức Giáo hoàng nói gì về việc vỗ tay trong thánh lễ?

Một trong những vấn nạn liên quan tới phụng vụ được nhiều người đặt ra là: có nên vỗ tay tán thưởng vị linh mục sau một bài giảng hay, một ca đoàn sau một bài hát gây cảm hứng, hay vỗ tay sau nghi thức thánh tẩy, hôn phối…? 17096 Trước tiên, cần khẳng định, chưa có giáo huấn chính thức nào của Giáo hội về vấn đề tế nhị này. Vì vậy, cũng có nhiều khuynh hướng và lối giải thích khác nhau. Dưới đây là lập trường của một số vị lãnh đạo Giáo hội. Trong cuốn Tinh thần Phụng...

Motets and Madrigals

0 lượt xem

Bài viết chờ bạn bình luận

Bên trên