Lm. Anphongsô Phạm Gia Thụy: Vị thừa sai nhân hậu, ân nhân của những cựu tù chính trị Côn Đảo

4.00 star(s) 3 Votes
phailamgi?
Tham gia
18/12/23
Bài viết
768

Ngày 9/11/2024, giữa đêm khuya thanh vắng, tiếng chuông báo tử dội lại, chạy dọc theo các hành lang tu viện, dồn dập báo tin cha Anphongsô Phạm Gia Thụy từ giã cõi thế, kết thúc 90 năm hành trình cuộc đời – một cuộc đời luôn trung thành với Chúa, với Hội thánh, với Nhà Dòng và người nghèo. Cha ra đi để lại nhiều ngậm ngùi, thương tiếc cho mọi người.


phamlamgi_Lm. Anphongsô Phạm Gia Thụy Vị thừa sai nhân hậu, ân nhân của những cựu tù chính trị...jpg

Lm. Anphongsô Phạm Gia Thụy, C.Ss.R.

Tuổi thơ – vào dòng

Cha Anphongsô Phạm Gia Thụy sinh ngày 17/10/1934 tại làng Tràng Châu, Phủ Lý, Hà Nam, nay thuộc tỉnh Ninh Bình, trong một gia đình đạo đức, có 11 người con; là con ông Giuse Phạm Ngọc Thư và bà An Na Nguyễn Thị Lan.

Ngày 7/5/1928, Dòng Chúa Cứu Thế được chính thức thành lập tại Hà Nội và trở thành nơi ông cố thường xuyên đến kính viếng mỗi dịp ra Hà Nội. Có lẽ vì mối thân tình này và vì cảm mến thánh Anphongsô, nên khi cha Thụy được sinh ra, ông cố đã lấy tên thánh Anphongsô đặt cho con trai mình.

Ngày 13/8/1945, giữa cơn biến loạn của thời cuộc, lúc cha vừa tròn 11 tuổi, với nguyện ước dâng con cho Chúa, trên chuyến xe lửa năm đó, ông cố đích thân đưa cha ra Thái Hà, xin các cha Dòng Chúa Cứu Thế cho con mình nhập Tiểu đệ tử viện Hà Nội vừa được thành lập hơn 1 tháng trước đó.

Ngày 26/12/1950, trước tình cảnh chiến tranh biên giới ngày càng leo thang, lo sợ "nạn đói Ất Dậu" tái diễn, các Bề trên dòng đã quyết định chuyển tất cả các cơ sở đào tạo từ Thái Hà Ấp vào Nam. Cha là 1 trong số 27 chú đệ tử được chọn theo Dòng vào Nam tu học.

Sau khi vào Nam, gia nhập Tiểu đệ tử Sài Gòn một thời gian, niên học 1951, cha cùng các bạn trong lớp được gửi ra Huế tiếp tục theo chương trình đào tạo của dòng.

Ngày 16/7/1954, cha gia nhập Tập viện, và một năm sau đó, được tuyên khấn lần đầu, nhập Học viện DCCT tại Đà Lạt.


phamlamgi_Lm. Anphongsô Phạm Gia Thụy Vị thừa sai nhân hậu, ân nhân của những cựu tù chính trị...jpg
Học viện DCCT tại Đà Lạt năm 1955

Những năm đầu đời linh mục

Ngày 6/1/1962, sau 7 năm miệt mài đèn sách, cha được thụ phong linh mục tại Đà Lạt, qua việc đặt tay phong chức của Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, và được bài sai về Huế phụ giúp Tiểu Đệ tử viện. Suốt 5 năm trong vai trò phó Giám đốc Tiểu Đệ tử, ngoài việc dạy học, cha tích cực tham gia giúp các xứ đạo trong nội thành Huế.

Niên học 1967, cha được bổ nhiệm về Sài Gòn, sau đó là Thủ Đức, tiếp tục công việc đào tạo các ứng sinh ban đầu của Dòng. Thời gian này, ngoài công việc đào tạo, cha còn trợ giúp nhóm bụi đời ở Khánh Hội, Nhóm Thanh Lao Công ở Sài Gòn và thường xuyên ra Nha Trang tham gia các kỳ tiểu phúc hoặc đại phúc.

phamlamgi_Lm. Anphongsô Phạm Gia Thụy Vị thừa sai nhân hậu, ân nhân của những cựu tù chính trị...jpg
Nhà thờ Côn Đảo, hiện do nhà nước quản lý. Ảnh: Giáo phận Bà Rịa

Cha sở Côn Đảo

Những chuyến giảng dạy lưu động, những lần gặp mặt với mọi hạng người cùng khổ, cùng với những biến động chính trị, những bất ổn và xáo trộn của đất nước và của Tỉnh dòng Chúa Cứu Thế vào những năm cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, đã buộc cha "phải chọn lại đặc sủng và sứ vụ một cách mới mẻ hơn" (Bút tích của cha Anphongsô Phạm Gia Thụy, lưu văn khố).

Đầu năm 1971, trong bối cảnh Côn Đảo vắng bóng các linh mục từ tháng 10/ 1969, sau khi cùng cha Stêphanô Chân Tín, C.Ss.R. thành lập "Ủy ban vận động cải thiện chế độ lao tù miền Nam Việt Nam", đáp lại lời mời tha thiết của Đức Tổng Phaolô Nguyễn Văn Bình, cha đã tình nguyện ra Côn Đảo làm cha sở cũng là để có điều kiện chăm sóc các tù nhân như cha mong muốn.

Côn Đảo lúc đó, được mệnh danh là "địa ngục trần gian", có tổng cộng khoảng 9.000 tù nhân, 3.000 quân cán chính Việt Nam Cộng hòa và một số ít giáo dân là cư dân trên đảo; giữa một nơi mà sự thù hận ngút trời, nơi dường như thiếu vắng tình người, làm sao để hòa giải, đem đến những điều tốt lành, không phân biệt "quốc gia" hay "cộng sản", tù nhân chính trị hay quản giáo… quả là bài toán nan giải cho vị linh mục trẻ mới chỉ 37 tuổi đời.

Trong bối cảnh nhạy cảm đó, cha đã phải rất khôn khéo để từng bước hóa giải xung đột, vừa thường xuyên trao đổi với chính quyền huyện đảo, với các quản giáo, vừa thường xuyên tiếp xúc, lắng nghe ý nguyện, và tranh đấu cho quyền lợi của tù nhân, cũng như cho người dân trên đảo.

Những người dân lớn tuổi trên đảo kể lại rằng, cùng với việc chăm lo đời sống tôn giáo, hàng ngày cha Thụy dành thời gian ra ven biển đánh cá. Cha đề nghị với viên "chúa đảo" bổ sung cá do mình đánh bắt được cho bếp ăn của những tử tù. Binh lính trên đảo ngạc nhiên, viên chúa đảo ra sức khuyên cha từ bỏ việc này nhưng mãi không được, đành chấp nhận.

Đây chỉ là một việc nhỏ trong nhiều công việc mục vụ cha làm để có thể gần gũi, gắn kết với mọi người. Nhờ đó, cha đã làm được một chuyện "phi thường" vào những ngày cuối tháng 4/1975, là hòa giải hòa hợp 2 bên tránh cho Côn Đảo một cuộc tắm máu.

phamlamgi_Lm. Anphongsô Phạm Gia Thụy Vị thừa sai nhân hậu, ân nhân của những cựu tù chính trị...jpg
Cha Anphongsô Phạm Gia Thụy và một Cựu tù nhân chính trị Côn Đảo. Ảnh: PLO

Thật vậy, những ngày đầu tháng Tư lịch sử, được tin ông cố bệnh nặng, ngày 16/4/1975, cha vội vã về lại đất liền. Những ngày ở bên người thân, tin Sài Gòn sắp thất thủ làm cho lòng cha như lửa đốt. Cha có quyền chọn lựa ở lại đất liền, nhưng cha đã quyết định xuống tàu ra Côn Đảo trong những ngày cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hòa, bởi vì cha biết ở đó đang cần cha.

Ngày 20/4/1975, giã từ gia đình, cha xuống Vũng Tầu, nhưng phải đến ngày 25/4/1975, cha mới có thể lên chuyến tầu chót ra Côn Đảo.

Ngay khi vừa đặt chân lên đảo, biết có âm mưu tàn sát các tù chính trị, cha lập tức lên kế hoạch "hòa giải giữa hai bên". Một mặt, cha cho thu hồi hết súng ống, vũ khí mà những quân cán chính VNCH, và của người dân, bỏ lại khắp nơi trên đảo. Cha cho mang về nhà thờ để khi tù chính trị nổi dậy họ không có vũ khí; mặt khác, cha tìm gặp những quân cán chính VNCH và một số tù nhân chính trị có tiếng, lên kế hoạch cho một cuộc tiếp quản đảo cách hòa bình. Cha đã làm được, chính cha đã vào tận từng khu xà lim để mở cửa cho các tù nhân chính trị biệt giam, làm công tác tư tưởng cho họ, trước khi đưa họ ra ngoài, nhờ đó mà đã không có bất cứ cuộc đổ máu nào xảy ra.

Khoảng 1 giờ 30 sáng ngày 1/5/1975, tất cả các xà lim tại Côn Đảo đã được mở và cha được tất cả thành phần của cả hai bên cắt cử làm Chủ tịch lâm thời của Ủy ban hòa hợp dân tộc tỉnh Côn Sơn.

phamlamgi_Lm. Anphongsô Phạm Gia Thụy Vị thừa sai nhân hậu, ân nhân của những cựu tù chính trị...jpg
Cha Anphongsô Phạm Gia Thụy, ngoài cùng bên phải, cùng các cha các thầy trong DCCT

Trở về đất liền

Ngày 7/5/1975, chính quyền cách mạng tiếp quản đảo, cha bàn giao lại mọi chức vụ cho chính quyền cách mạng và trở về lại đất liền, về với cộng đoàn DCCT Sài Gòn sau nhiều năm sống ngoại vi vì sứ vụ.

Những năm sau 1975, hoàn cảnh đất nước thay đổi, các cơ sở của Dòng lần lượt bị tịch thu, không thể đi đâu, cha cùng quí cha, quí thầy trong Dòng chung tay giữ gìn tu viện và biến nhà thờ Kỳ Đồng thành một trung tâm mục vụ sôi động nhất cả nước.

Về phía cá nhân, sau khi rời đảo, cha tiếp tục âm thầm trong một chừng mực tiếp đón các cựu tù nhân đến viếng thăm, thường là vào các dịp mà chính quyền gọi là "các dịp lễ lớn của đất nước". Cha đón họ vì tình nghĩa, nhưng cũng vì muốn những hạt giống Tin mừng mà cha gieo nơi họ lúc còn ở Côn Đảo, biết đâu sẽ nảy mầm.

Thực tế, sự kiên trì cùng lời cầu nguyện của cha đã có kết quả. Vào những năm đầu thập niên 1990, khi đất nước mở cửa, chính sách tôn giáo có phần cởi mở hơn, vượt qua những trở ngại của lịch sử, nhiều cựu tù nhân Côn Đảo đã âm thầm tìm đến với cha, nhờ cha dạy đạo, cử hành các bí tích sau hết. Có lần cha đã phải thức dậy từ 1 giờ sáng để dâng lễ an táng tại gia cho một cựu tù nhân, chỉ vì người qua đời là một đảng viên cao cấp. Trước khi qua đời, ông chối lại cho người thân phải mời cha đến cử hành nghi thức an táng theo phép đạo trước khi theo phép đời. Giữa đêm khuya, một mình cha lên đường dâng lễ cho người đã khuất và một mình trở về khi cả thành phố còn chưa lên đèn.

Thế là, thêm một lần họ mang ơn cha, thêm một lần những người được cha cứu sống trên đảo được cha cứu khỏi sự giam cầm đời đời. Họ là những con người cả một đời rong ruổi chẳng tin Chúa, đến cuối đời thấy cần bám vào Chúa thì có một cái neo mà Chúa gieo sẵn từ khi họ còn ở trong tù – cái neo ấy mang tên Anphongsô Phạm Gia Thụy.

Đối với hội dòng, suốt mấy thập niên sau giải phóng, cha đảm nhận nhiều trách vụ trong dòng, như Cố vấn của Tỉnh dòng (1993 – 1999, 2005 – 2008), Giám đốc Dự tập (1976-1982), Giáo tập (1986 – 2002) và Giám đốc Học viện (1984 – 1986, 2003 – 2008) trong các giai đoạn khác nhau.

Ngoài ra, cha còn giảng tĩnh tâm, giải tội cho nhiều dòng tu nam nữ, làm linh hướng cho các chủng sinh tại Đại chủng viện thánh Giuse Hà Nội (1993 – 1999), tham gia giảng dạy Thần học Luân lý, Cánh chung học tại các dòng tu, học viện…

phamlamgi_Lm. Anphongsô Phạm Gia Thụy Vị thừa sai nhân hậu, ân nhân của những cựu tù chính trị...jpg
Cha Thụy trong ngày kỷ niệm 65 năm khấn dòng, ngày 4/1/2020

Những ngày cuối đời

Sau một hành trình dài nhiều thách đố, để đi tìm "cái vẫy tay của Chúa", khi không còn có thể trực tiếp tham gia với các anh em Dòng Chúa Cứu Thế trong công việc mục vụ, hằng ngày cha vẫn âm thầm hiện diện cùng anh em trong các giờ kinh, thánh lễ của cộng đoàn, chiêm nghiệm và đón nhận những thử thách của tuổi già để làm chứng cho Tin mừng.

Nửa đêm về sáng, ngày 11/9/2024, ngày thứ Bảy – ngày của Mẹ, cũng là ngày kỷ niệm 292 năm ngày lập Dòng, 3 lần trong đêm cha ra trước tượng Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội, bổn mạng đệ nhất của Dòng – được đặt ở sân nhà Hưu dưỡng, để cầu nguyện cho Dòng. Sau lần thứ 3 trở vào, lúc 3 giờ 45 phút, cha nhận được "cái vẫy tay của Chúa". Cha thanh thản ra đi vào ngày sinh nhật của Dòng thánh, cũng là ngày thứ Bảy, ngày của Mẹ, người Mẹ mà suốt cả cuộc đời cha yêu mến; kết thúc một hành trình dài 90 năm với biết bao khó khăn thử thách giữa những thăng trầm của Giáo hội và đất nước.​
 

Những lời nói dối được xem là "vô hại" có được phép không?

Sống trên đời, không ai thích người khác lừa dối mình dù đó là những lời nói dối "vô hại", nhưng nhiều người vẫn sẵn sàng nói dối vì cho rằng, đó là những lời nói dối không gây hại cho ai, đôi khi còn cần thiết để tránh làm tổn thương mọi người. Vậy, những lời nói dối được cho là "vô hại" có được phép không? 17273 Ảnh: Báo Thanh Niên Lý do khiến người ta nói dối Cần phải xác định rõ, tự nó, nối dối là một hành vi xấu về mặt luân lý. Nhưng nhiều người vẫn cho phép...

Việc cầu nguyện trước mỗi quyết định là gì?

Mỗi khi đứng trước một chọn lựa quan trọng, người Kitô hữu thường được khuyên: “Hãy cầu nguyện về điều đó.” Lời khuyên ấy quen thuộc đến mức đôi khi trở thành một phản xạ trước khi chọn ngành học, đổi công việc, lập gia đình, mua nhà, dấn thân phục vụ hay sử dụng tiền bạc, người ta được nhắc phải đặt quyết định của mình trước mặt Chúa. 17180 Đó là một lời khuyên đúng. Nhưng nếu không hiểu đúng, người tín hữu có thể biến cầu nguyện thành một cách tìm kiếm câu trả lời có sẵn, như thể...

Các Đức Giáo hoàng nói gì về việc vỗ tay trong thánh lễ?

Một trong những vấn nạn liên quan tới phụng vụ được nhiều người đặt ra là: có nên vỗ tay tán thưởng vị linh mục sau một bài giảng hay, một ca đoàn sau một bài hát gây cảm hứng, hay vỗ tay sau nghi thức thánh tẩy, hôn phối…? 17096 Trước tiên, cần khẳng định, chưa có giáo huấn chính thức nào của Giáo hội về vấn đề tế nhị này. Vì vậy, cũng có nhiều khuynh hướng và lối giải thích khác nhau. Dưới đây là lập trường của một số vị lãnh đạo Giáo hội. Trong cuốn Tinh thần Phụng...

Motets and Madrigals

0 lượt xem

Bài viết chờ bạn bình luận

Bên trên