Thành viên
- Tham gia
- 10/12/25
- Bài viết
- 15
- Chủ đề Author
- #1
Có lẽ ngoài Thiên Chúa ra, không có bất kỳ vị thánh nào lại được mang nhiều tước hiệu, sự tôn kính và được nghiên cứu nhiều như Đức Ma-ri-a. Thậm chí có cả bộ môn Thánh Mẫu học để chuyên nghiên cứu về Mẹ.
Dưới đây tác giả mạo muội trình bày một góc nhìn từ Thánh Kinh về các danh hiệu, phẩm tính của Đức Ma-ri-a không những các tín hữu Công giáo chấp nhận mà còn có thể giúp các tín hữu Ki-tô ngoài Công giáo (Tin Lành, Anh giáo…) có cái nhìn đầy đủ và trung thực hơn về Đức Ma-ri-a.
1. Mẹ Chúa – Mẹ Thiên Chúa
“Bởi đâu tôi được Thân Mẫu của Chúa tôi đến với tôi thế này” Lc 1:43
Xét về tính hợp lý (logic): Đức Maria là Mẹ của Chúa Giê-su. Mà Chúa Giê-su là Chúa và là Thiên Chúa. Vì vậy, gọi Đức Maria là Mẹ Chúa hay Mẹ Thiên Chúa với tư cách là Mẹ của Ngôi Lời Thiên Chúa, tức Đức Ki-tô, hoàn toàn hợp lý.
Xét về Kinh Thánh, bà Ê-li-sa-bét khi được đầy tràn Thánh Thần đã gọi Đức Maria là “Thân Mẫu của Chúa tôi” (x. Lc 1:43) khi được Đức Maria viếng thăm. Điều này cho thấy: bà Ê-li-sa-bét tuyên xưng Người Con trong cung lòng Maria là Chúa, và tuyên xưng Đức Maria là Thân Mẫu của Chúa (Mẹ của Chúa).
Xét về tính hợp lý (logic): Đức Maria là Mẹ của Chúa Giê-su. Mà Chúa Giê-su là Chúa và là Thiên Chúa. Vì vậy, gọi Đức Maria là Mẹ Chúa hay Mẹ Thiên Chúa với tư cách là Mẹ của Ngôi Lời Thiên Chúa, tức Đức Ki-tô, hoàn toàn hợp lý.
Xét về Kinh Thánh, bà Ê-li-sa-bét khi được đầy tràn Thánh Thần đã gọi Đức Maria là “Thân Mẫu của Chúa tôi” (x. Lc 1:43) khi được Đức Maria viếng thăm. Điều này cho thấy: bà Ê-li-sa-bét tuyên xưng Người Con trong cung lòng Maria là Chúa, và tuyên xưng Đức Maria là Thân Mẫu của Chúa (Mẹ của Chúa).
- Từ “Chúa” (Adonai/Lord) người Do Thái thường sử dụng để gọi ĐỨC CHÚA (YHWH) Thiên Chúa (El – Eloah/God) của họ, hoặc vua chúa, thủ lãnh dẫn dắt họ. Ở đây, xét về chính trị - xã hội, Đức Giê-su không nắm giữ bất kỳ vị trí nào; thậm chí Người còn chưa ra đời; còn Đức Maria chỉ là một người nghèo, thuộc tầng lớp bình dân. Vì vậy, từ ”Chúa” mà bà Ê-li-sa-bét gọi chỉ có thể là tuyên xưng Đức Giê-su (Con trẻ nơi cung lòng Đức Maria) là ĐỨC CHÚA (YHWH), Thiên Chúa (Eloah) của dân Israel.
- Vì vậy, lời của bà Ê-li-sa-bét được Chúa Thánh Thần soi sáng là một mặc khải của Thiên Chúa cho chúng ta: Đức Maria là Mẹ Chúa – cũng là Mẹ Thiên Chúa với tư cách là Mẹ Đức Giê-su Ki-tô Ngôi Lời Thiên Chúa.
2. Mẹ của các Tín hữu – Mẹ của Hội thánh – Mẹ của Dân Thiên Chúa
“Khi thấy thân mẫu và người môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng:
“Thưa Bà, đây là con Bà”. Rồi Người nói với người môn đệ: “Đây là mẹ của anh”. Ga 19:26-27
“...Đức Ki-tô là đầu của Hội thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội thánh, (là) Thân thể của Người” Ep 5:23
Chúng ta biết người môn đệ được nhắc đến ở trên chính là Thánh Gio-an Tông đồ, tác giả của Tin Mừng này. Chính ông là người đã cảm nhận rất sâu về tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại (Ga 3:16: Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi...), cụ thể nơi Đức Giê-su Ki-tô (Ga 13:1: ...và Người yêu thương họ đến cùng) cũng như cảm thấu được tình Chúa dành cho ông lớn lao dường nào. Có lẽ vì vậy mà thay vì dùng từ tôi hay Gio-an, tác giả... thì ông lại dùng danh xưng là: người môn đệ được Chúa thương khi nhắc đến chính ông.
Danh xưng “người môn đệ được Chúa thương” mà Gio-an sử dụng rất đặc biệt. Vì ai là môn đệ của Chúa Giê-su? Và môn đệ như thế nào thì được Chúa yêu? Theo Mathew 28:19 thì bất cứ ai chịu phép rửa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần đều được thâu nạp làm môn đệ của Chúa Giê-su; và trong toàn bộ Tin Mừng, cách riêng Ga 13:1 cho biết: Chúa Giê-su đã yêu thương họ đến cùng (Ga 13:1). Như thế, câu nói của Chúa Giê-su không chỉ với Gio-an mà còn cho tất cả chúng ta là những môn đệ mà Chúa yêu. Chính vì vậy, chúng ta có thể gọi Đức Maria là Mẹ của các tín hữu và Mẹ của Dân Thiên Chúa.
Ngoài ra, Đức Maria là Mẹ Chúa Giê-su, mà Hội thánh là Thân thể Đức Giê-su (x. Ep 5:23), nên Đức Maria cũng chính là Mẹ Hội thánh.
“Thưa Bà, đây là con Bà”. Rồi Người nói với người môn đệ: “Đây là mẹ của anh”. Ga 19:26-27
“...Đức Ki-tô là đầu của Hội thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội thánh, (là) Thân thể của Người” Ep 5:23
Chúng ta biết người môn đệ được nhắc đến ở trên chính là Thánh Gio-an Tông đồ, tác giả của Tin Mừng này. Chính ông là người đã cảm nhận rất sâu về tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại (Ga 3:16: Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi...), cụ thể nơi Đức Giê-su Ki-tô (Ga 13:1: ...và Người yêu thương họ đến cùng) cũng như cảm thấu được tình Chúa dành cho ông lớn lao dường nào. Có lẽ vì vậy mà thay vì dùng từ tôi hay Gio-an, tác giả... thì ông lại dùng danh xưng là: người môn đệ được Chúa thương khi nhắc đến chính ông.
Danh xưng “người môn đệ được Chúa thương” mà Gio-an sử dụng rất đặc biệt. Vì ai là môn đệ của Chúa Giê-su? Và môn đệ như thế nào thì được Chúa yêu? Theo Mathew 28:19 thì bất cứ ai chịu phép rửa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần đều được thâu nạp làm môn đệ của Chúa Giê-su; và trong toàn bộ Tin Mừng, cách riêng Ga 13:1 cho biết: Chúa Giê-su đã yêu thương họ đến cùng (Ga 13:1). Như thế, câu nói của Chúa Giê-su không chỉ với Gio-an mà còn cho tất cả chúng ta là những môn đệ mà Chúa yêu. Chính vì vậy, chúng ta có thể gọi Đức Maria là Mẹ của các tín hữu và Mẹ của Dân Thiên Chúa.
Ngoài ra, Đức Maria là Mẹ Chúa Giê-su, mà Hội thánh là Thân thể Đức Giê-su (x. Ep 5:23), nên Đức Maria cũng chính là Mẹ Hội thánh.
3. Mẹ của chúng sinh – Mẹ của Nhân loại
“Thưa Bà, đây là con Bà.” (x, Ga 19:26)
“...nàng sẽ được gọi là người đàn bà, vì được rút ra từ đàn ông”. St 2:23
“Con người đặt tên cho vợ là E-và, vì bà là mẹ của chúng sinh.” St 3:20
Khi gọi Đức Maria với danh xưng Thưa Bà (hay Thưa Người Đàn Bà), điều này không nhằm coi thường hay coi trọng theo văn hóa Do Thái thời xưa. Đúng là Chúa đã công bố long trọng nhưng đó là sự cao trọng theo Kinh Thánh và mầu nhiệm đức tin trong kế hoạch cứu độ. Đọc lại Sáng thế chúng ta thấy người nữ trợ tá được gọi là Người Đàn Bà, là E-và vì bà là nhờ A-đam mà có và vì bà là Mẹ của chúng sinh. Thánh Phao-lô dạy rằng “A-đam là hình ảnh của Đấng sẽ tới” (x. Rm 5:14).
“Vì một người sa ngã (A-đam) mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất (Đức Giê-su Ki-tô) thực hiện lẽ công chính, mọi người được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống” (x. Rm 5:!8)
Như vậy, Chúa Giê-su chính là “Đấng sẽ tới”, tức A-đam Mới, và chính Ngài với tư cách là Đấng thực hiện lẽ công chính, cho mọi người được nên công chính, được sống đã sắc phong Mẹ của Người làm E-và Mới.
Từ “Thưa Bà/Người Đàn Bà” (Woman) được Chúa Giê-su sử dụng hai lần cho Mẹ Người cách trang trọng, dạng danh xưng khi sắc phong; lần thứ nhất tại Tiệc cưới Ca-na khi Người bắt đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng; lần thứ hai trên Thập giá lúc sắp hoàn tất sứ vụ. Điều này cho thấy danh hiệu E-và Mới mà Người ban cho Mẹ mình gắn liền với sứ vụ của Người. Nghĩa là như E-và nhờ A-đam mà có và gắn liền với A-đam về xác thịt, thì mọi ân phúc của Đức Maria cũng được nhận lãnh từ Đức Ki-tô là A-đam Mới.
Tóm lại, như Chúa Giê-su là A-đam Mới thì Đức Maria cũng trở thành E-và Mới, là Người Đàn Bà – Mẹ của chúng sinh mới. Và vì con người được Thiên Chúa cho “làm bá chủ cá biển, chim trời và mọi giống vật bò trên mặt đất” (x. St 1:28) nên Đức Maria cũng là Mẹ của Nhân loại.
“...nàng sẽ được gọi là người đàn bà, vì được rút ra từ đàn ông”. St 2:23
“Con người đặt tên cho vợ là E-và, vì bà là mẹ của chúng sinh.” St 3:20
Khi gọi Đức Maria với danh xưng Thưa Bà (hay Thưa Người Đàn Bà), điều này không nhằm coi thường hay coi trọng theo văn hóa Do Thái thời xưa. Đúng là Chúa đã công bố long trọng nhưng đó là sự cao trọng theo Kinh Thánh và mầu nhiệm đức tin trong kế hoạch cứu độ. Đọc lại Sáng thế chúng ta thấy người nữ trợ tá được gọi là Người Đàn Bà, là E-và vì bà là nhờ A-đam mà có và vì bà là Mẹ của chúng sinh. Thánh Phao-lô dạy rằng “A-đam là hình ảnh của Đấng sẽ tới” (x. Rm 5:14).
“Vì một người sa ngã (A-đam) mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất (Đức Giê-su Ki-tô) thực hiện lẽ công chính, mọi người được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống” (x. Rm 5:!8)
Như vậy, Chúa Giê-su chính là “Đấng sẽ tới”, tức A-đam Mới, và chính Ngài với tư cách là Đấng thực hiện lẽ công chính, cho mọi người được nên công chính, được sống đã sắc phong Mẹ của Người làm E-và Mới.
Từ “Thưa Bà/Người Đàn Bà” (Woman) được Chúa Giê-su sử dụng hai lần cho Mẹ Người cách trang trọng, dạng danh xưng khi sắc phong; lần thứ nhất tại Tiệc cưới Ca-na khi Người bắt đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng; lần thứ hai trên Thập giá lúc sắp hoàn tất sứ vụ. Điều này cho thấy danh hiệu E-và Mới mà Người ban cho Mẹ mình gắn liền với sứ vụ của Người. Nghĩa là như E-và nhờ A-đam mà có và gắn liền với A-đam về xác thịt, thì mọi ân phúc của Đức Maria cũng được nhận lãnh từ Đức Ki-tô là A-đam Mới.
Tóm lại, như Chúa Giê-su là A-đam Mới thì Đức Maria cũng trở thành E-và Mới, là Người Đàn Bà – Mẹ của chúng sinh mới. Và vì con người được Thiên Chúa cho “làm bá chủ cá biển, chim trời và mọi giống vật bò trên mặt đất” (x. St 1:28) nên Đức Maria cũng là Mẹ của Nhân loại.
4. Đấng Đầy Ân phúc – Đức Chúa ở cùng
“Mừng vui lên, hỡi Đấng Đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà” Lc 1:28
Danh xưng “Đấng Đầy ân sủng” trong Lc 1:28 không chỉ là một lời chúc thông thường, nhưng còn như một tước hiệu. Chúng ta có thể nhận thấy Đức Maria đã được ban ân sủng trọn vẹn trong quá khứ, và tình trạng ấy kéo dài còn hiệu lực cho tới hiện tại. Thiên thần không gọi tên Maria trước, nhưng gọi bằng chính tình trạng ân sủng của Mẹ. Điều này rất hiếm trong Kinh Thánh, cho thấy căn tính sâu xa của Mẹ được xác định bởi ân sủng của Thiên Chúa chứ không bởi công trạng tự nhiên. Người được đầy ơn sủng cũng là người hằng được Đức Chúa nhìn xem, trông nom, bảo vệ (x. Hc 16:29).
Cụm từ “Đức Chúa ở cùng bà” trong Cựu Ước được sử dụng cho: Mô-sê (Xh 3:12), Giô-suê (Gs 1:5) và các thủ lãnh được Chúa tuyển chọn. Trong Tân Ước, Đấng Mê-si-a xuống thế làm người mang danh Em-ma-nu-en (Thiên Chúa ở cùng chúng ta). Điều này cho thấy Thiên Chúa ở cùng để thực hiện một sứ mạng đặc biệt về ơn cứu độ, hoặc chuẩn bị cho việc thực hiện kế hoạch cứu độ.
Như thế, Đức Maria là nơi Thiên Chúa ngự đến cách độc nhất, không chỉ ở cùng, mà còn ở trong cung lòng Mẹ. Các câu Hc 16:29 và Tt 3:6 cho thấy: nơi nào Thiên Chúa thực hiện kế hoạch cứu độ, nơi đó ân sủng được tuôn đổ dồi dào. Đức Maria chính là khởi điểm của sự tuôn đổ ấy trong lịch sử cứu độ mới.
Danh xưng “Đấng Đầy ân sủng” trong Lc 1:28 không chỉ là một lời chúc thông thường, nhưng còn như một tước hiệu. Chúng ta có thể nhận thấy Đức Maria đã được ban ân sủng trọn vẹn trong quá khứ, và tình trạng ấy kéo dài còn hiệu lực cho tới hiện tại. Thiên thần không gọi tên Maria trước, nhưng gọi bằng chính tình trạng ân sủng của Mẹ. Điều này rất hiếm trong Kinh Thánh, cho thấy căn tính sâu xa của Mẹ được xác định bởi ân sủng của Thiên Chúa chứ không bởi công trạng tự nhiên. Người được đầy ơn sủng cũng là người hằng được Đức Chúa nhìn xem, trông nom, bảo vệ (x. Hc 16:29).
Cụm từ “Đức Chúa ở cùng bà” trong Cựu Ước được sử dụng cho: Mô-sê (Xh 3:12), Giô-suê (Gs 1:5) và các thủ lãnh được Chúa tuyển chọn. Trong Tân Ước, Đấng Mê-si-a xuống thế làm người mang danh Em-ma-nu-en (Thiên Chúa ở cùng chúng ta). Điều này cho thấy Thiên Chúa ở cùng để thực hiện một sứ mạng đặc biệt về ơn cứu độ, hoặc chuẩn bị cho việc thực hiện kế hoạch cứu độ.
Như thế, Đức Maria là nơi Thiên Chúa ngự đến cách độc nhất, không chỉ ở cùng, mà còn ở trong cung lòng Mẹ. Các câu Hc 16:29 và Tt 3:6 cho thấy: nơi nào Thiên Chúa thực hiện kế hoạch cứu độ, nơi đó ân sủng được tuôn đổ dồi dào. Đức Maria chính là khởi điểm của sự tuôn đổ ấy trong lịch sử cứu độ mới.
5. Người Nữ tỳ của Chúa
“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa...” x. Lc 1:38
“Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới...” Lc 1:48
Khi được sứ thần truyền tin, Đức Maria đã thưa “Vâng” và xưng mình là “Người Nữ tỳ của Chúa”. Khi xưng mình là nữ tỳ của Chúa, Đức Maria vừa thể hiện lòng khiêm nhường; đồng thời thể hiện sự tự do vâng phục mọi thánh Ý của Thiên Chúa: tôn trọng mọi người, yêu thương anh em, và kính sợ Thiên Chúa (x. 1Pr 2:16-17).
Mẹ nhận mình phận Nữ tỳ cũng có nghĩa là để Chúa thực hiện mọi Chương trình của Người trên Mẹ, ngay cả khi Mẹ không hiểu về Chương trình của Chúa (x. Ga 15:15: vì tôi tớ không biết việc chủ làm). Tuy nhiên, thân phận khiêm nhường của người Nữ tỳ lại được Chúa nâng cao: “Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (x. Lc 1:52)
Mẹ với tư cách là Nữ tỳ của Chúa thực sự đã được Chúa cho trở nên người nữ hàng đầu trong mọi người nữ, vì: “Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em/mọi người” Mt 20:27; Mc 10:44
“Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ.. (x. Lc 1:44)
Vua Đa-vít, trong Thánh vịnh 86 và Thánh vịnh 116 đã nhắc đến người Nữ tỳ, thậm chí ông cậy vì ông là con của người Nữ tỳ để kêu xin Thiên Chúa: đoái nhìn và thương xót ông, ban sức mạnh và cứu độ ông (x. Tv 86:16; Tv 116). Mẹ của Đa-vít là ai, tên gì...? hoàn toàn không được Kinh Thánh nhắc đến. Kinh Thánh chỉ nhắc đến cha của ông như gốc tổ Gie-sê (x. Is 11:1) để từ đó mọc lên một nhánh nhỏ, và từ cội rễ ấy mọc lên một Mầm Non”, tức về một vị Vua trị vì vô cùng vô tận (x. Lc 1:33). Trong Thánh vịnh 110, vua Đa-vít nói tiên tri về Đấng Mê-si-a mà ông tuyên xưng là Chúa Thượng, là Đấng ngự trị bên hữu ĐỨC CHÚA (Tv 110:1), Đấng được ĐỨC CHÚA mở rộng quyền vương đế, quyền bá chủ (Tv 110:2), Đấng đầy vinh quang và huy hoàng tựa thần linh.
Chúng ta thấy Đa-vít khi kêu cầu ĐỨC CHÚA không cậy vì mình là Vua Israel, không cậy vì mình là con cháu của tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác, Gia-cóp... , cũng không cậy quyền của Mô-sê hay bất kỳ ngôn sứ nào. Nhưng ông chỉ cậy vì mình là con của người Nữ tỳ để kêu cầu ĐỨC CHÚA của ông. Điều này cho chúng ta thấy ông cảm nhận được một người Nữ tỳ đầy uy lực và có thể cậy trông người đó. Người Nữ tỳ này chỉ có thể trực tiếp liên quan đến Đấng mà ông gọi là Chúa Thượng. Đọc Lc 1:38 chúng ta thấy Đức Maria xưng mình là: “Nữ tỳ của Chúa”; Ga 19:26-27 ta lại thấy Chúa Giê-su trao mẹ Người làm mẹ của “môn đệ mà Người thương mến. Như thế, nếu như vua Đa-vít đã gọi Đấng Mê-si-a là Chúa Thượng, tức ông nhìn nhận mình là môn đệ của Đấng Mê-si-a thì người Nữ tỳ mà vua Đa-vít nhận làm Mẹ chỉ có thể là Đức Maria – Mẹ của Đấng Mê-si-a.
Vua Đa-vít, chỉ được mặc khải trước về Đấng Mê-si-a xuất hiện sau ông cả nghìn năm, thế nhưng ông đã hết lòng tôn kính, tin yêu; lại còn biết cậy trông vào Mẹ Đấng ấy và nhìn nhận mình là con. Vì vậy, chúng ta lại càng có cơ sở để tôn kính và cậy trông Đức Maria với danh hiệu Người Nữ tỳ của Chúa biết bao.
“Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới...” Lc 1:48
Khi được sứ thần truyền tin, Đức Maria đã thưa “Vâng” và xưng mình là “Người Nữ tỳ của Chúa”. Khi xưng mình là nữ tỳ của Chúa, Đức Maria vừa thể hiện lòng khiêm nhường; đồng thời thể hiện sự tự do vâng phục mọi thánh Ý của Thiên Chúa: tôn trọng mọi người, yêu thương anh em, và kính sợ Thiên Chúa (x. 1Pr 2:16-17).
Mẹ nhận mình phận Nữ tỳ cũng có nghĩa là để Chúa thực hiện mọi Chương trình của Người trên Mẹ, ngay cả khi Mẹ không hiểu về Chương trình của Chúa (x. Ga 15:15: vì tôi tớ không biết việc chủ làm). Tuy nhiên, thân phận khiêm nhường của người Nữ tỳ lại được Chúa nâng cao: “Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (x. Lc 1:52)
Mẹ với tư cách là Nữ tỳ của Chúa thực sự đã được Chúa cho trở nên người nữ hàng đầu trong mọi người nữ, vì: “Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em/mọi người” Mt 20:27; Mc 10:44
“Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ.. (x. Lc 1:44)
Vua Đa-vít, trong Thánh vịnh 86 và Thánh vịnh 116 đã nhắc đến người Nữ tỳ, thậm chí ông cậy vì ông là con của người Nữ tỳ để kêu xin Thiên Chúa: đoái nhìn và thương xót ông, ban sức mạnh và cứu độ ông (x. Tv 86:16; Tv 116). Mẹ của Đa-vít là ai, tên gì...? hoàn toàn không được Kinh Thánh nhắc đến. Kinh Thánh chỉ nhắc đến cha của ông như gốc tổ Gie-sê (x. Is 11:1) để từ đó mọc lên một nhánh nhỏ, và từ cội rễ ấy mọc lên một Mầm Non”, tức về một vị Vua trị vì vô cùng vô tận (x. Lc 1:33). Trong Thánh vịnh 110, vua Đa-vít nói tiên tri về Đấng Mê-si-a mà ông tuyên xưng là Chúa Thượng, là Đấng ngự trị bên hữu ĐỨC CHÚA (Tv 110:1), Đấng được ĐỨC CHÚA mở rộng quyền vương đế, quyền bá chủ (Tv 110:2), Đấng đầy vinh quang và huy hoàng tựa thần linh.
Chúng ta thấy Đa-vít khi kêu cầu ĐỨC CHÚA không cậy vì mình là Vua Israel, không cậy vì mình là con cháu của tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác, Gia-cóp... , cũng không cậy quyền của Mô-sê hay bất kỳ ngôn sứ nào. Nhưng ông chỉ cậy vì mình là con của người Nữ tỳ để kêu cầu ĐỨC CHÚA của ông. Điều này cho chúng ta thấy ông cảm nhận được một người Nữ tỳ đầy uy lực và có thể cậy trông người đó. Người Nữ tỳ này chỉ có thể trực tiếp liên quan đến Đấng mà ông gọi là Chúa Thượng. Đọc Lc 1:38 chúng ta thấy Đức Maria xưng mình là: “Nữ tỳ của Chúa”; Ga 19:26-27 ta lại thấy Chúa Giê-su trao mẹ Người làm mẹ của “môn đệ mà Người thương mến. Như thế, nếu như vua Đa-vít đã gọi Đấng Mê-si-a là Chúa Thượng, tức ông nhìn nhận mình là môn đệ của Đấng Mê-si-a thì người Nữ tỳ mà vua Đa-vít nhận làm Mẹ chỉ có thể là Đức Maria – Mẹ của Đấng Mê-si-a.
Vua Đa-vít, chỉ được mặc khải trước về Đấng Mê-si-a xuất hiện sau ông cả nghìn năm, thế nhưng ông đã hết lòng tôn kính, tin yêu; lại còn biết cậy trông vào Mẹ Đấng ấy và nhìn nhận mình là con. Vì vậy, chúng ta lại càng có cơ sở để tôn kính và cậy trông Đức Maria với danh hiệu Người Nữ tỳ của Chúa biết bao.
6. Người Nữ Đồng trinh
“gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Maria” Lc 1:27
“Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en...”Mt 1:23
Người Nữ Đồng trinh được Kinh Thánh nhắc đi nhắc lại nhiều lần khi nhắc đến Đức Maria sinh hạ Chúa Giê-su như để nhấn mạnh. Điều này, khẳng định một chân lý chắc chắn: Đức Giê-su là Con Thiên Chúa làm người, được sinh bởi Đức Maria; và cũng khẳng định Đức Maria vẫn hoàn toàn đồng trinh khi sinh hạ Chúa Giê-su.
Việc Kinh Thánh được viết ra sau nhiều năm ám chỉ Đức Maria vẫn còn đồng trinh cho tới lúc các sách Tin Mừng được viết. Điều này càng rõ hơn khi dưới chân Thập giá Chúa Giê-su trao Mẹ Người cho người môn đệ thương mến chăm sóc – tức Đức Maria không còn người con nào khác ngoài Chúa Giê-su. Vì nếu Mẹ còn sinh thêm vài người con khác thì Chúa Giê-su không thể tước đi quyền và nghĩa vụ chăm sóc của con cái với Mẹ mình được.
Mặt khác, sau nhiều thập niên Chúa về trời khi tuyên xưng đức tin các tông đồ mạnh mẽ khẳng định: “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai sinh bởi bà Maria Đồng trinh”, chứ không khẳng định “một người nữ đã từng đồng trinh” . Cả Kinh Thánh và Kinh Tin Kính (Bản Tuyên xưng Đức tin của các Tông đồ) đều sử dụng danh từ Trinh nữ (Virgin) như một danh hiệu gắn với Đức Maria suốt cuộc đời.
Như thế, Kinh Thánh không trực tiếp nói Đức Maria đồng trinh trọn đời, nhưng khi sử dụng từ Trinh nữ (Virgin) như một danh hiệu dành cho Mẹ và việc Chúa Giê-su trước lúc hấp hối trên Thập giá trao Mẹ Người cho Gio-an đã khẳng định một chân lý chắc chắn: Đức Maria Đồng trinh trọn đời. Còn Lc 2:7 khi nói bà “sinh con trai đầu lòng”, điều này ám chỉ Chúa Giê-su là con đầu lòng, còn tất cả chúng ta, những tín hữu Ki-tô trở thành một đàn con đông đúc của Mẹ vì đều là những người môn đệ được Chúa Giê-su yêu thương trao ban Mẹ Người (Ga 19:26-27), lúc đó chính Chúa Giê-su trở thành Trưởng Tử giữa một đàn em đông đúc (x. Rm 8:29).
“Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en...”Mt 1:23
Người Nữ Đồng trinh được Kinh Thánh nhắc đi nhắc lại nhiều lần khi nhắc đến Đức Maria sinh hạ Chúa Giê-su như để nhấn mạnh. Điều này, khẳng định một chân lý chắc chắn: Đức Giê-su là Con Thiên Chúa làm người, được sinh bởi Đức Maria; và cũng khẳng định Đức Maria vẫn hoàn toàn đồng trinh khi sinh hạ Chúa Giê-su.
Việc Kinh Thánh được viết ra sau nhiều năm ám chỉ Đức Maria vẫn còn đồng trinh cho tới lúc các sách Tin Mừng được viết. Điều này càng rõ hơn khi dưới chân Thập giá Chúa Giê-su trao Mẹ Người cho người môn đệ thương mến chăm sóc – tức Đức Maria không còn người con nào khác ngoài Chúa Giê-su. Vì nếu Mẹ còn sinh thêm vài người con khác thì Chúa Giê-su không thể tước đi quyền và nghĩa vụ chăm sóc của con cái với Mẹ mình được.
Mặt khác, sau nhiều thập niên Chúa về trời khi tuyên xưng đức tin các tông đồ mạnh mẽ khẳng định: “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai sinh bởi bà Maria Đồng trinh”, chứ không khẳng định “một người nữ đã từng đồng trinh” . Cả Kinh Thánh và Kinh Tin Kính (Bản Tuyên xưng Đức tin của các Tông đồ) đều sử dụng danh từ Trinh nữ (Virgin) như một danh hiệu gắn với Đức Maria suốt cuộc đời.
Như thế, Kinh Thánh không trực tiếp nói Đức Maria đồng trinh trọn đời, nhưng khi sử dụng từ Trinh nữ (Virgin) như một danh hiệu dành cho Mẹ và việc Chúa Giê-su trước lúc hấp hối trên Thập giá trao Mẹ Người cho Gio-an đã khẳng định một chân lý chắc chắn: Đức Maria Đồng trinh trọn đời. Còn Lc 2:7 khi nói bà “sinh con trai đầu lòng”, điều này ám chỉ Chúa Giê-su là con đầu lòng, còn tất cả chúng ta, những tín hữu Ki-tô trở thành một đàn con đông đúc của Mẹ vì đều là những người môn đệ được Chúa Giê-su yêu thương trao ban Mẹ Người (Ga 19:26-27), lúc đó chính Chúa Giê-su trở thành Trưởng Tử giữa một đàn em đông đúc (x. Rm 8:29).
7. Người hằng lắng nghe và thi hành ý muốn của Chúa Cha
“Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.” Mt 12:50
“Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.” Mc 3:35
“Mẹ tôi và anh em tôi chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” Lc 8:21
Như chúng ta biết, bà Ê-li-sa-bét đầy dẫy Thánh Thần tuyên xưng Đức Maria là Mẹ của Chúa (Thân Mẫu Chúa tôi), trong khi Chúa Giê-su lại dạy các môn đệ Mẹ Ngài là người biết lắng nghe lời Thiên Chúa và mang ra thực hành (Lc 8:21, xem thêm Mt 12:50, Mc 3:35). Điều này, ngoài việc giảng dạy các môn đệ về một gia đình thiêng liêng Nước Thiên Chúa ra thì chính Chúa Giê-su cũng gián tiếp khen ngợi Mẹ Ngài là người luôn lắng nghe và thi hành ý muốn của Thiên Chúa.
Các bản văn Mt 12:50; Mc 3:35; Lc 8:21 không hạ thấp vai trò của Đức Maria, nhưng mặc khải chiều sâu ơn gọi của Mẹ. Chúa Giê-su hoàn toàn không phủ nhận Mẹ của Người, nhưng mặc khải lý do sâu xa vì sao Mẹ thực sự là Mẹ Người, đó chính là Mẹ hằng lắng nghe và thi hành ý muốn của Chúa Cha. Điều này hoàn toàn hài hòa với Lc 1:38 “Xin vâng” và Lc 2:19 “Đức Maria ghi nhớ mọi đièu và suy đi nghĩ lại trong lòng. Mẹ không chỉ sinh ra Chúa Giê-su theo xác thịt mà còn:
“Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.” Mc 3:35
“Mẹ tôi và anh em tôi chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” Lc 8:21
Như chúng ta biết, bà Ê-li-sa-bét đầy dẫy Thánh Thần tuyên xưng Đức Maria là Mẹ của Chúa (Thân Mẫu Chúa tôi), trong khi Chúa Giê-su lại dạy các môn đệ Mẹ Ngài là người biết lắng nghe lời Thiên Chúa và mang ra thực hành (Lc 8:21, xem thêm Mt 12:50, Mc 3:35). Điều này, ngoài việc giảng dạy các môn đệ về một gia đình thiêng liêng Nước Thiên Chúa ra thì chính Chúa Giê-su cũng gián tiếp khen ngợi Mẹ Ngài là người luôn lắng nghe và thi hành ý muốn của Thiên Chúa.
Các bản văn Mt 12:50; Mc 3:35; Lc 8:21 không hạ thấp vai trò của Đức Maria, nhưng mặc khải chiều sâu ơn gọi của Mẹ. Chúa Giê-su hoàn toàn không phủ nhận Mẹ của Người, nhưng mặc khải lý do sâu xa vì sao Mẹ thực sự là Mẹ Người, đó chính là Mẹ hằng lắng nghe và thi hành ý muốn của Chúa Cha. Điều này hoàn toàn hài hòa với Lc 1:38 “Xin vâng” và Lc 2:19 “Đức Maria ghi nhớ mọi đièu và suy đi nghĩ lại trong lòng. Mẹ không chỉ sinh ra Chúa Giê-su theo xác thịt mà còn:
- Đón nhận Lời trong đức tin,
- Để Lời ấy lớn lên trong đời sống,
- Và sống trọn vẹn theo Lời.
Và qua đó Đức Maria thực sự là môn đệ đầu tiền và trọn hảo nhất của Chúa Ki-tô, Con Mẹ
8. Người hằng tin tưởng vào Thiên Chúa
“Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã hứa với em.” Lc 1:45
Lc 1:45 cho thấy Đức Maria có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã hứa với Mẹ. Điều này thật sự quan trọng. Như Áp-ra-ham nhờ tin (Rm 4:3) và thi hành ý Thiên Chúa (Gc 2:21) mà được kể là người công chính, Đức Maria vì đã tin nên thật có phúc, được gọi là Đấng Đầy ơn phúc, Thân mẫu của Chúa...
Lc 1:45 đặt Đức Maria song song với Áp-ra-ham: Áp-ra-ham tin khi chưa thấy (Rm 4:18–21) – Đức Maria tin khi chưa hiểu trọn vẹn (Lc 1:34).
Đức tin của Mẹ không phải là cảm xúc, mà là sự phó thác toàn diện. Mẹ tin không chỉ lúc Truyền Tin, mà còn: khi phải sinh con nơi hang đá, khi trốn sang Ai Cập, và khi đứng dưới chân Thập Giá.
Vì thế, Mẹ không chỉ “có phúc vì làm Mẹ”, mà có phúc vì đã tin. Đức Maria trở thành mẫu gương đức tin của Hội thánh lữ hành, tin giữa tối tăm, tin khi chưa thấy vinh quang phục sinh.
Lc 1:45 cho thấy Đức Maria có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã hứa với Mẹ. Điều này thật sự quan trọng. Như Áp-ra-ham nhờ tin (Rm 4:3) và thi hành ý Thiên Chúa (Gc 2:21) mà được kể là người công chính, Đức Maria vì đã tin nên thật có phúc, được gọi là Đấng Đầy ơn phúc, Thân mẫu của Chúa...
Lc 1:45 đặt Đức Maria song song với Áp-ra-ham: Áp-ra-ham tin khi chưa thấy (Rm 4:18–21) – Đức Maria tin khi chưa hiểu trọn vẹn (Lc 1:34).
Đức tin của Mẹ không phải là cảm xúc, mà là sự phó thác toàn diện. Mẹ tin không chỉ lúc Truyền Tin, mà còn: khi phải sinh con nơi hang đá, khi trốn sang Ai Cập, và khi đứng dưới chân Thập Giá.
Vì thế, Mẹ không chỉ “có phúc vì làm Mẹ”, mà có phúc vì đã tin. Đức Maria trở thành mẫu gương đức tin của Hội thánh lữ hành, tin giữa tối tăm, tin khi chưa thấy vinh quang phục sinh.
9. Người được thương xót vì hết lòng kính sợ Chúa
“Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người”. Lc 1:50
“Kính sợ Chúa” trong Kinh Thánh không phải là sợ hãi, mà là “...gớm ghét điều dữ. Thói kiêu căng, ngạo mạn và lối sống bất lương cũng như lời gian manh, tráo trở là những điều ta chê ghét” Cn 8:13.
Lc 1:50 đặt Đức Maria trong hàng ngũ những người nghèo của Đức Chúa, những kẻ chỉ biết cậy trông vào lòng thương xót. Chính vì thế, nơi Đức Maria, lòng thương xót của Thiên Chúa bắt đầu được thực hiện cách cụ thể cho toàn thể nhân loại.
“Kính sợ Chúa” trong Kinh Thánh không phải là sợ hãi, mà là “...gớm ghét điều dữ. Thói kiêu căng, ngạo mạn và lối sống bất lương cũng như lời gian manh, tráo trở là những điều ta chê ghét” Cn 8:13.
Lc 1:50 đặt Đức Maria trong hàng ngũ những người nghèo của Đức Chúa, những kẻ chỉ biết cậy trông vào lòng thương xót. Chính vì thế, nơi Đức Maria, lòng thương xót của Thiên Chúa bắt đầu được thực hiện cách cụ thể cho toàn thể nhân loại.
10. Người khiêm nhường và nghèo khó
“Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới...” Lc 1:48
“Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” Lc 1:52
“Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, Người giàu có lại đuổi về tay trắng.” Lc 1:53
Các câu Lc 1:44. 52-53 cho thấy Đức Maria không chỉ nói về bản thân, mà đọc lịch sử cứu đô dưới ánh sáng hành động của Thiên Chúa. Mẹ tự nhận mình là “Phận nữ tỳ hèn mọn”, nhưng trong chính sự nghèo khó ấy:
“Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” Lc 1:52
“Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, Người giàu có lại đuổi về tay trắng.” Lc 1:53
Các câu Lc 1:44. 52-53 cho thấy Đức Maria không chỉ nói về bản thân, mà đọc lịch sử cứu đô dưới ánh sáng hành động của Thiên Chúa. Mẹ tự nhận mình là “Phận nữ tỳ hèn mọn”, nhưng trong chính sự nghèo khó ấy:
- Thiên Chúa đảo ngược trật tự thế gian,
- Nâng cao kẻ bé mọn,
- Làm thất bại mọi quyền lực tự mãn.
Như thế, Đức Maria trở thành biểu tượng sống động của Tin Mừng, khi Thiên Chúa không cứu độ bằng quyền lực, mà bằng sự khiêm hạ, khó nghèo.
11. Người được thông phần chia sẻ danh dự và vinh quang của Thiên Chúa
"Từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc,
Đấng Toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả” Lc 1:48b-49a
Có lẽ không có bất kỳ một người nào, dù là người ngạo mạn kiêu căng nhất dám khẳng định: “Tù nay, hết mọi đời con người sẽ khen tôi diễm phúc”. Ấy thế mà Đức Maria một người hết lòng khiêm nhường khi được Thánh Thần soi sáng lại cảm nhận và tuyên xưng điều đó. Lc 1:48b–49a cho thấy: danh dự của Đức Maria không tự phát sinh, mà hoàn toàn là ân huệ của “Đấng Toàn năng”. Cụm từ “hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” không phải là lời tự tôn nhưng là: một lời tiên tri, một sự cảm nhận và tuyên xưng vào quyền năng Thiên Chúa.
Đấng Toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả” Lc 1:48b-49a
Có lẽ không có bất kỳ một người nào, dù là người ngạo mạn kiêu căng nhất dám khẳng định: “Tù nay, hết mọi đời con người sẽ khen tôi diễm phúc”. Ấy thế mà Đức Maria một người hết lòng khiêm nhường khi được Thánh Thần soi sáng lại cảm nhận và tuyên xưng điều đó. Lc 1:48b–49a cho thấy: danh dự của Đức Maria không tự phát sinh, mà hoàn toàn là ân huệ của “Đấng Toàn năng”. Cụm từ “hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” không phải là lời tự tôn nhưng là: một lời tiên tri, một sự cảm nhận và tuyên xưng vào quyền năng Thiên Chúa.
12. Người được Lời Chúa chạm vào nơi sâu thẳm của linh hồn
“Bấy giờ bà Maria nói: Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa,
Thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi.” Lc 1:46-47
“Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi; xuyên thấu chỗ phân cách giữa tâm với linh (tức: linh hồn với thần trí: soul and spirit), cốt với tủy...Hr 4:12
Thư Híp-ri khẳng định: Lời Thiên Chúa không chỉ được nghe bằng tai hay hiểu bằng trí, nhưng là Lời sống động, có sức xuyên thấu tận nơi sâu thẳm nhất của con người, chạm đến nơi thầm kín nhất: phân cách giữa linh hồn với thần trí.
Khi đặt Híp-ri 4:12 song song với hai câu đầu của Manificat (Lc 1:46-47) ta thấy Đức Maria:
Thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi.” Lc 1:46-47
“Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi; xuyên thấu chỗ phân cách giữa tâm với linh (tức: linh hồn với thần trí: soul and spirit), cốt với tủy...Hr 4:12
Thư Híp-ri khẳng định: Lời Thiên Chúa không chỉ được nghe bằng tai hay hiểu bằng trí, nhưng là Lời sống động, có sức xuyên thấu tận nơi sâu thẳm nhất của con người, chạm đến nơi thầm kín nhất: phân cách giữa linh hồn với thần trí.
Khi đặt Híp-ri 4:12 song song với hai câu đầu của Manificat (Lc 1:46-47) ta thấy Đức Maria:
- Linh hồn ngợi khen Đức Chúa,
- Thần trí hớn hở vui mừng...
Sự phân biệt tinh tế giữa linh hồn và thần trí trong lời ca của Đức Maria cho thấy: Lời Thiên Chúa đã thực sự xuyên thấu và tác động đến tận tầng sâu nhất của Mẹ, như tác giả Thư Híp-ri mô tả. Manificat không phải là phản ứng bộc phát của cảm xúc, nhưng là âm vang của Lời Thiên Chúa đã thấm nhập, phân định và biến đổi toàn bộ nội tâm của Mẹ.
Như thế, Mẹ Maria không chỉ nghe Lời mà còn là người để Lời đi vào tận đáy lòng, làm rung động cả linh hồn và thần trí. Mẹ trở thành “mảnh đất” đầu tiên nơi Lời Thiên Chúa không chỉ được công bố mà Ngôi Lời thực sự đã được sống, được cưu mang và sinh hoa trái nơi cung lòng.
Như thế, Mẹ Maria không chỉ nghe Lời mà còn là người để Lời đi vào tận đáy lòng, làm rung động cả linh hồn và thần trí. Mẹ trở thành “mảnh đất” đầu tiên nơi Lời Thiên Chúa không chỉ được công bố mà Ngôi Lời thực sự đã được sống, được cưu mang và sinh hoa trái nơi cung lòng.
13. Đức Ma-ri-a luôn vâng phục Thiên Chúa
“Bấy giờ bà Maria nói: Vâng, tôi đây là...(x. Lc 1:38a)
Tiếng thưa “Xin vâng” của Đức Maria là điểm bản lề của lịch sử cứu độ. Vì nếu như E-và cũ bất tuân khi nghe lời con rắn thì Đức Maria vâng phục khi nghe Lời Thiên Chúa. Sự vâng phục này không xóa bỏ tự do của Mẹ mà là tự do được trao hiến trọn vẹn. Chúa Giê-su dẫu là Con Thiên Chúa nhưng cũng trải qua nhiều đau khổ để học được thế nào là “vâng phục”; cũng thế Mẹ Maria cũng dành cả cuộc đời để học “vâng phục” Thiên Chúa bằng cách hằng ghi nhớ, suy đi nghĩ lại trong lòng (Lc 2:!9)
Nhờ lời “Xin vâng” của Mẹ, Ngôi Lời đã nhập thể. Vì thế Đức Maria không chỉ vâng phục mà còn là người cộng tác cách tự do và trọn vẹn nhất vào công trình cứu độ của Chúa Giê-su Con của Mẹ, luôn lệ thuộc vào Chúa Giê-su Ki-tô.
Tiếng thưa “Xin vâng” của Đức Maria là điểm bản lề của lịch sử cứu độ. Vì nếu như E-và cũ bất tuân khi nghe lời con rắn thì Đức Maria vâng phục khi nghe Lời Thiên Chúa. Sự vâng phục này không xóa bỏ tự do của Mẹ mà là tự do được trao hiến trọn vẹn. Chúa Giê-su dẫu là Con Thiên Chúa nhưng cũng trải qua nhiều đau khổ để học được thế nào là “vâng phục”; cũng thế Mẹ Maria cũng dành cả cuộc đời để học “vâng phục” Thiên Chúa bằng cách hằng ghi nhớ, suy đi nghĩ lại trong lòng (Lc 2:!9)
Nhờ lời “Xin vâng” của Mẹ, Ngôi Lời đã nhập thể. Vì thế Đức Maria không chỉ vâng phục mà còn là người cộng tác cách tự do và trọn vẹn nhất vào công trình cứu độ của Chúa Giê-su Con của Mẹ, luôn lệ thuộc vào Chúa Giê-su Ki-tô.
Ảnh trong bài: Canva
Chỉnh sửa lần cuối:
