Behold God’s Providence
- Tham gia
- 17/12/23
- Bài viết
- 1,649
- Chủ đề Author
- #1
Hội đồng Kinh tế Giáo xứ đã được khai sinh trong Giáo Hội từ sau Công Đồng Vaticanô II, trong chiều kích cộng đồng và đồng tham dự của mọi tín hữu, giáo sĩ cũng như giáo dân, vào đời sống của Giáo Hội.
Lời Chúa, gương Chúa Giê-su và truyền thống tông đồ cũng như các giáo phụ liên tục cho chúng ta thấy đâu thái độ đúng đắn đối với của cải trần thế, nếu chúng ta muốn sống phù hợp với đức tin mà chúng ta hằng tuyên xưng.Cũng nên biết rằng giữa hiệu năng hoạt động mục vụ không lệ thuộc trực tiếp vào những phương tiện kinh tế cũng như những cơ cấu được xử dụng. Vì thế, cần ý thức rằng hiệu quả kinh tế tổ chức không bao giờ được vượt quá sứ điệp Tin Mừng, và cần phải sẵn sàng khước từ những “ân huệ” đặc biệt, nhất là khi những ân huệ ấy có thể trở nên chướng ngại cho sự đáng tin của Giáo Hội.
Tinh thần trách nhiệm và đồng trách nhiệm trong việc quản trị những tài sản, cũng như sự minh bạch, rõ ràng và chính xác cũng như những cách thế xử dụng trong việc quản trị là những giá trị không bao giờ được xao lãng; cả cộng đoàn tín hữu đều được mời gọi lưu tâm và giáo dục mọi người về việc tôn trọng các giá trị đó. Đối với người tín hữu giáo dân, một vai trò rất quan trọng khác nữa trong lãnh vực đặc biệt này là “phục vụ cho các tài sản của Giáo Hội”. Thật vậy, người tín hữu giáo dân, ngoài bổn phận ý thức về những lợi ích cần thiết của Giáo Hội cũng như của chính mình, luôn được mời gọi cống hiến khả năng đặc biệt và kinh nghiệm riêng của mình cho việc quản trị các tài sản của Giáo Hội.
Thành lập
Điều 1: Hội Đồng Kinh Tế (HĐKT), được linh mục quản xứ thành lập chiếu theo điều khoản 537 của Bộ Giáo luật, là một cơ cấu nhờ sự hợp tác của các người tín hữu giáo dân với linh mục quản xứ trong đời sống của giáo xứ để có được một sự quản trị hoàn hảo và chính chắn về các tài sản của Giáo Hội.
Điều 2: HĐKT là một cơ cấu khác biệt với HĐMV và hoạt động theo chức năng của mình đã được hoạch định trong quy chế này. Thật vậy, trong khi HĐMV nhắm về những cộng việc mục vụ tổng quát của giáo xứ, thì HĐKT phụ giúp cho HĐMV để nghiên cứu và xử dụng những gì mà HĐMV cần đến. Do đó, cần phải có một sự hợp tác tối đa và cần có sự liên lạc thường xuyên giữa hai cơ cấu nhờ sự hiện diện của một số thành viên trong cả hai Hội Đồng.
Điều 2: HĐKT là một cơ cấu khác biệt với HĐMV và hoạt động theo chức năng của mình đã được hoạch định trong quy chế này. Thật vậy, trong khi HĐMV nhắm về những cộng việc mục vụ tổng quát của giáo xứ, thì HĐKT phụ giúp cho HĐMV để nghiên cứu và xử dụng những gì mà HĐMV cần đến. Do đó, cần phải có một sự hợp tác tối đa và cần có sự liên lạc thường xuyên giữa hai cơ cấu nhờ sự hiện diện của một số thành viên trong cả hai Hội Đồng.
Mục đích
Điều 3: Mục đích đặc biệt của HĐKT là trợ giúp linh mục quản xứ bằng việc góp ý và cộng tác của mình trong việc quản trị các tài sản của giáo xứ (GL 1280). Cần tôn trọng ý hướng của những người dâng cúng và mục đích chính cua tài sản của Giáo Hội là để xử dụng vào việc thờ phượng, nâng đỡ và bảo đảm xứng hợp cho đời sống của hàng giáo sĩ và những ai đang phục vụ cho giáo xứ, chi dùng cho những hoạt động mục vụ cũng như cho công việc bác ái (GL 1254§2).
Điều 4: Trong thực tế, HĐKT có bổn phận:
Điều 4: Trong thực tế, HĐKT có bổn phận:
- a. gìn giữ và bảo trì các cơ sở, coi sóc những vật liệu, dụng cụ và những gì thuộc về giáo xứ, đặc biệt lưu ý đến những tài sản có tính cách lịch sử và mỹ thuật;
- b. nghiên cứu và góp ý về những giao kèo, hợp đồng, dự án và chương trình kinh tế và quản trị các tài sản, những công việc của người phục vụ cho những sinh hoạt của giáo xứ;
- c. chia sẻ với linh mục quản xứ trong việc ước tính những nhu cầu kinh tế của giáo xứ, đặc biệt nâng đỡ đời sống của hàng giáo sĩ và thù lao xứng đáng cho các tu sĩ cũng như giáo dân đang phục vụ trong việc phụng tự và mục vụ, chu toàn các bổn phận bảo hiểm và tương trợ, cũng như những bổn phận khác theo pháp luật đối với giáo xứ;
- d. xác nhận và ký kết những dự án chi thu hằng năm trong việc quản trị giáo xứ;
- e. lưu ý và nhạy bén đối với các nhu cầu của các cơ quan khác trong Giáo Hội...
Thành phần
Điều 5: HĐKT gồm ít nhất là 3 thành viên do linh mục quản xứ chỉ định sau khi đã thăm dò ý kiến của HĐMV, và một số thành viên chuyên môn về vấn đề kinh tế.
Điều 6: Quyền chủ tịch của HĐKT là chính linh mục quản xứ hoặc vị quản nhiệm giáo xứ, nghĩa là người đại diện hợp pháp của giáo xứ theo điều khoản 532 của Giáo Luật.
Điều 7: Những người được chỉ định cần có một sự hiểu biết chuyên môn về việc quản lý và có những đức tính cần thiết trong đời sống luân lý; hiệp thông với Giáo Hội và không liên hệ bà con với linh mục quản xứ (GL 492§3); phục vụ giáo xứ một cách nhưng không.
Điều 8: Một thành viên được coi là bãi nhiệm nếu không tham dự ba buổi họp liên tiếp mà không có lý do chính đáng.
Điều 9: những thành viên được chỉ định với nhiệm kỳ là 5 năm; có thể được tái cử theo thể thức đã ghi ở điều 5 của quy chế này.
Điều 6: Quyền chủ tịch của HĐKT là chính linh mục quản xứ hoặc vị quản nhiệm giáo xứ, nghĩa là người đại diện hợp pháp của giáo xứ theo điều khoản 532 của Giáo Luật.
Điều 7: Những người được chỉ định cần có một sự hiểu biết chuyên môn về việc quản lý và có những đức tính cần thiết trong đời sống luân lý; hiệp thông với Giáo Hội và không liên hệ bà con với linh mục quản xứ (GL 492§3); phục vụ giáo xứ một cách nhưng không.
Điều 8: Một thành viên được coi là bãi nhiệm nếu không tham dự ba buổi họp liên tiếp mà không có lý do chính đáng.
Điều 9: những thành viên được chỉ định với nhiệm kỳ là 5 năm; có thể được tái cử theo thể thức đã ghi ở điều 5 của quy chế này.
Quyền hạn và nhiệm vụ
Điều 10: Tiếng nói của các thành viên chỉ có tính cách thăm dò chứ không mang tính cách quyết định. Dầu vậy, trong hội đồng mỗi người đều phải nói lên sự hợp tác có trách nhiệm của mình như một người tín hữu (GL 127; 212§3). Linh mục quản xứ phải biết lắng nghe một cách cẩn mật ý kiến của mọi người, không làm khác đi nếu không vì lý do nghiêm trọng và cần xem sự cộng tác thường xuyên của họ như một phương thế vững vàng trong việc quản trị giáo xứ.
Điều 11: HĐKT họp mỗi năm ít là 3 lần do sự triệu tập và điều hành của linh mục quản xứ : đề cử một thành viên làm thư ký và trình bày rõ ràng về sổ sách. Buổi họp được thành sự cần phải có sự hiện diện của ít nhất là 1/2+1 trong số các thành viên.
Điều 12: Mỗi thành viên có bổn phận tham dự các buổi họp; vắng mặt cần có ly do chính đáng hay có thể cử người đại diện thay thế cho mình (GL 1284).
Điều 13: Trong phiên họp đầu tiên, vị chủ tọa cần trình bày cho tất cả các thành viên biết về tài sản, động sản và bất động sản hiện có và tình trạng kinh tế tài chánh hiện tại của giáo xứ (GL 1283§2).
Điều 14: Sổ chi thu thường phải được cất giữ tại nhà xứ và linh mục quản xứ có thể đề cử một thành viên trợ giúp. Về những vấn đề quản nhiệm theo luật pháp dân sự thì nên ủy thác cho một văn phòng chỉ dẫn chuyên môn.
Điều 15: Việc cất giữ tiền bạc, ngân phiếu, bưu phiếu... cần phải đề tên của giáo xứ... do linh mục quản xứ đương nhiệm, và không bao giờ được đề tên một ai khác.
Điều 16: Những biên bản của HĐKT cần phải được ghi chú cẩn thận và phải được linh mục quản xứ cùng thư ký HĐ ký, và phải được chuẩn y trong phiên họp kế tiếp. Tất cả các sổ sách chi thu, mọi tài liệu quản nhiệm và những biên bản của HĐ cần phải được lưu giữ tại nhà xứ hay văn khố của giáo xứ (GL 555§4; 1276; 1287).
Điều 11: HĐKT họp mỗi năm ít là 3 lần do sự triệu tập và điều hành của linh mục quản xứ : đề cử một thành viên làm thư ký và trình bày rõ ràng về sổ sách. Buổi họp được thành sự cần phải có sự hiện diện của ít nhất là 1/2+1 trong số các thành viên.
Điều 12: Mỗi thành viên có bổn phận tham dự các buổi họp; vắng mặt cần có ly do chính đáng hay có thể cử người đại diện thay thế cho mình (GL 1284).
Điều 13: Trong phiên họp đầu tiên, vị chủ tọa cần trình bày cho tất cả các thành viên biết về tài sản, động sản và bất động sản hiện có và tình trạng kinh tế tài chánh hiện tại của giáo xứ (GL 1283§2).
Điều 14: Sổ chi thu thường phải được cất giữ tại nhà xứ và linh mục quản xứ có thể đề cử một thành viên trợ giúp. Về những vấn đề quản nhiệm theo luật pháp dân sự thì nên ủy thác cho một văn phòng chỉ dẫn chuyên môn.
Điều 15: Việc cất giữ tiền bạc, ngân phiếu, bưu phiếu... cần phải đề tên của giáo xứ... do linh mục quản xứ đương nhiệm, và không bao giờ được đề tên một ai khác.
Điều 16: Những biên bản của HĐKT cần phải được ghi chú cẩn thận và phải được linh mục quản xứ cùng thư ký HĐ ký, và phải được chuẩn y trong phiên họp kế tiếp. Tất cả các sổ sách chi thu, mọi tài liệu quản nhiệm và những biên bản của HĐ cần phải được lưu giữ tại nhà xứ hay văn khố của giáo xứ (GL 555§4; 1276; 1287).
Thông báo cho giáo xứ
Điều 17: HĐKT phải trình bày cho HĐMV biết cán cân chi thu hằng năm và cho toàn thể giáo xứ biết những việc chính yếu; ngoài ra, cũng nên cho biết về việc xử dụng những của dâng cúng của các tín hữu và cũng có thể cho biết về những dự án nhằm gây lợi tức cần thiết cho các nhu cầu mục vụ và nâng đỡ đời sống của các giáo sĩ, tu sĩ đang phục vụ trong giáo xứ.
Điều 18: Về những gì không có trong quy chế này thì phải theo Bộ Giáo Luật hiện hành.
Điều 18: Về những gì không có trong quy chế này thì phải theo Bộ Giáo Luật hiện hành.
Lm Agostino Nguyễn Văn Dụ
- Viết theo “Regolamento del Consiglio Parrocchiale per gli Affari Ecconomici” trong ấn bản của Công Nghị Giáo Phận Treviso 1983-1987, Sinodo, Una Chiesa che cammina insieme, Edizioni “La Vita del Popolo”, trang 259-263.
- Ảnh trong bài: Giáo xứ Giang Xá - TGP Hà Nội
Cùng chủ đề
