• Chủ đề Author

Thông điệp Humani Generis, ban hành ngày 12/8/1950, là một trong những văn kiện thần học quan trọng nhất của thế kỷ XX. Trong đó, Đức Piô XII cảnh báo về những trào lưu tư tưởng mới – như chủ nghĩa hiện sinh, duy vật biện chứng, và chủ nghĩa tương đối tín lý – đang đe dọa làm suy yếu nền tảng giáo lý Công giáo. Thông điệp cũng bàn đến thuyết tiến hóa, đa nguyên nguồn gốc loài người (polygenism), và mối tương quan giữa đức tin – lý trí – khoa học hiện đại, khẳng định quyền và trách nhiệm của Huấn quyền Hội Thánh trong việc hướng dẫn suy tư thần học.​


Phailamgi_Thông điệp Humani Generis - Đức Piô XII (1950)_cv.jpeg
Ảnh: Đức Giáo hoàng Piô XII (AFP)

THÔNG ĐIỆP HUMANI GENERIS
CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG PIÔ XII
GỬI CÁC HUYNH ĐỆ ĐÁNG KÍNH LÀ CÁC THƯỢNG PHỤ, GIÁO CHỦ,
TỔNG GIÁM MỤC, GIÁM MỤC VÀ CÁC ĐẤNG BẢN QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
HIỆP THÔNG TRONG BÌNH AN VỚI TÔNG TÒA
VỀ MỘT SỐ Ý KIẾN SAI LẦM
ĐE DỌA LÀM LUNG LAY NỀN TẢNG CỦA GIÁO LÝ CÔNG GIÁO​



Các Huynh Đệ đáng kính,
Chúc lành và ơn Tông đồ.

1. Những bất đồng và sai lầm của con người trong các vấn đề luân lý và tôn giáo luôn là nguồn cớ của niềm đau sâu sắc cho mọi người thiện tâm, nhưng đặc biệt hơn cả là cho những người con trung thành của Hội Thánh, nhất là trong thời đại này, khi các nguyên tắc của nền văn hóa Kitô giáo đang bị công kích tứ phía.

2. Không có gì đáng ngạc nhiên khi tình trạng bất hòa và sai lầm ấy luôn tồn tại bên ngoài đoàn chiên của Đức Kitô. Vì, xét theo nghĩa tuyệt đối, lý trí con người – bằng năng lực và ánh sáng tự nhiên của nó – có thể đạt tới một nhận thức chân thật và chắc chắn về một Thiên Chúa duy nhất, có ngôi vị, Đấng quan phòng điều khiển và chăm sóc thế giới; cũng như về lề luật tự nhiên mà Đấng Tạo Hóa đã khắc ghi trong lòng chúng ta. Tuy nhiên, có không ít trở ngại ngăn cản lý trí con người sử dụng cách hữu hiệu và sinh hoa trái khả năng tự nhiên ấy. Những chân lý liên quan đến Thiên Chúa và mối tương quan giữa Thiên Chúa với loài người hoàn toàn vượt quá trật tự khả giác, đòi hỏi con người phải biết từ bỏ bản thân và hi sinh chính mình để có thể đem ra thực hành và để ảnh hưởng đến đời sống cụ thể. Nhưng trí khôn con người, khi tìm kiếm những chân lý như thế, lại bị cản trở bởi hoạt động của các giác quan và trí tưởng tượng, cũng như bởi các đam mê xấu nảy sinh từ tội nguyên tổ. Do đó, người ta dễ tự thuyết phục rằng những gì họ không muốn tin là sai lầm hoặc ít nhất là đáng nghi ngờ.

3. Vì lý do đó, mạc khải thần linh được xem là điều cần thiết về mặt luân lý, để những chân lý tôn giáo và luân lý – tuy không vượt ngoài tầm với của lý trí – vẫn có thể được mọi người nhận biết một cách dễ dàng, chắc chắn và không lẫn lộn sai lầm.[1]

4. Hơn nữa, trí khôn con người đôi khi gặp khó khăn trong việc đưa ra phán đoán về tính khả tín của đức tin Công giáo, mặc dù Thiên Chúa đã ban cho nhiều dấu chỉ bên ngoài tuyệt vời đủ để chứng minh, chỉ bằng ánh sáng tự nhiên của lý trí, nguồn gốc thần linh của tôn giáo Kitô giáo. Tuy nhiên, con người – vì thành kiến, đam mê hoặc ác ý – vẫn có thể khước từ và chống lại không chỉ những bằng chứng ấy, mà còn cả những thúc đẩy của ơn thánh thực sự.

5. Nếu ai khảo sát tình hình bên ngoài hàng rào Hội Thánh, người đó sẽ dễ dàng nhận thấy những khuynh hướng chủ đạo mà không ít người học thức đang theo đuổi. Một số người, cách thiếu thận trọng, cho rằng thuyết tiến hóa, dù vẫn chưa được chứng minh đầy đủ ngay cả trong phạm vi khoa học tự nhiên, có thể giải thích nguồn gốc của mọi sự; và họ táo bạo ủng hộ những quan điểm nhất nguyên hay phiếm thần, cho rằng thế giới luôn ở trong một quá trình tiến hóa liên tục. Người cộng sản nhiệt tình chấp nhận quan điểm này, để khi tâm hồn con người bị tước mất mọi ý niệm về một Thiên Chúa có ngôi vị, họ có thể dễ dàng hơn trong việc cổ võ và bảo vệ chủ nghĩa duy vật biện chứng của họ.

6. Những học thuyết hư cấu ấy về tiến hóa – vốn chối bỏ mọi điều tuyệt đối, vững chắc và bất biến – đã mở đường cho một triết thuyết sai lầm mới, cạnh tranh với chủ nghĩa duy tâm, nội tại và thực dụng, mang tên hiện sinh (existentialism), vì chỉ quan tâm đến sự hiện hữu của từng sự vật cá biệt mà bỏ qua bản chất bất biến của chúng.

7. Cũng xuất hiện một thứ chủ nghĩa lịch sử cực đoan (historicism), vốn chỉ gán giá trị cho các biến cố trong đời sống con người, và do đó làm sụp đổ nền tảng của mọi chân lý và luật lệ tuyệt đối, cả trong lãnh vực triết học lẫn trong các tín điều Kitô giáo.

8. Giữa cảnh hỗn loạn của các ý kiến ấy, chúng tôi được an ủi phần nào khi thấy những người từng theo chủ nghĩa duy lý nay thường bày tỏ ước muốn trở về với nguồn mạch của chân lý được Thiên Chúa mặc khải, và nhìn nhận cũng như tuyên xưng Lời Chúa được chứa đựng trong Thánh Kinh như nền tảng của việc giảng dạy tôn giáo.
Tuy nhiên, điều đáng tiếc là không ít người trong số đó – càng xác tín Lời Chúa bao nhiêu – thì lại càng hạ thấp giá trị của lý trí con người bấy nhiêu; và càng tôn vinh quyền năng của Thiên Chúa là Đấng Mặc Khải, thì lại càng khinh thường quyền giảng dạy của Hội Thánh, vốn được Đức Kitô thiết lập để gìn giữ và giải thích Mặc Khải. Thái độ này không chỉ mâu thuẫn với Thánh Kinh, mà còn bị thực tế chứng minh là sai lầm, vì chính những người tách khỏi Hội Thánh ấy thường công khai than phiền về sự bất đồng trong tín lý của họ, và qua đó, vô tình làm chứng cho sự cần thiết của một quyền giảng dạy sống động.

9. Các nhà thần học và triết học Công giáo – những người có bổn phận nghiêm trọng trong việc bảo vệ chân lý tự nhiên và siêu nhiên, cũng như khắc ghi chúng trong tâm hồn con người – không thể bỏ qua hoặc thờ ơ trước những quan điểm sai lầm ấy. Trái lại, họ phải tìm hiểu kỹ lưỡng các học thuyết đó, vì: bệnh tật không thể được chữa trị nếu không được chẩn đoán đúng; trong các học thuyết sai lầm ấy vẫn có thể chứa đựng một phần nào chân lý; và chính những sai lầm ấy lại thúc đẩy việc khảo cứu và đào sâu hơn các chân lý triết học và thần học.

10. Nếu các triết gia và thần học gia chỉ nhằm mục đích đó khi khảo sát các học thuyết nói trên, thì sẽ không có lý do gì để quyền huấn giáo của Hội Thánh phải can thiệp. Tuy nhiên, dù chúng tôi biết rằng hầu hết các nhà giảng dạy Công giáo đều tránh xa những sai lầm ấy, nhưng vẫn rõ ràng là ngày nay – như trong thời các Tông đồ – có những người, vì ham thích điều mới lạ và sợ bị xem là lạc hậu trước các phát minh khoa học, nên tìm cách tách mình khỏi quyền giảng dạy thánh thiêng của Hội Thánh, và do đó có nguy cơ dần dần xa rời chân lý được mặc khải, lôi kéo người khác cùng rơi vào lầm lạc.

11. Một mối nguy khác cũng đang được nhận thấy — càng nghiêm trọng hơn vì nó được che giấu dưới dáng vẻ của nhân đức. Có nhiều người, than phiền về tình trạng bất đồng và lẫn lộn tư tưởng nơi con người, vì nhiệt tâm thiếu khôn ngoan trong việc cứu rỗi các linh hồn, nên bị thúc đẩy bởi một ước muốn mãnh liệt muốn xóa bỏ mọi ranh giới chia cách giữa những người tốt lành và lương thiện. Họ cổ võ một thứ “eirênism” (tạm dịch: chủ nghĩa hòa đồng mù quáng), theo đó họ muốn gạt sang một bên những vấn đề gây chia rẽ để liên kết mọi người, không chỉ nhằm chống lại các cuộc tấn công của chủ nghĩa vô thần, mà còn để hòa giải các lập trường đối nghịch nhau trong lĩnh vực tín lý.
Và cũng như trong quá khứ, có những người từng đặt nghi vấn liệu lối hộ giáo truyền thống của Hội Thánh có phải là một trở ngại cho việc chinh phục các linh hồn cho Đức Kitô hay không; thì ngày nay, có những người táo bạo không kém, đặt câu hỏi nghiêm túc rằng nền thần học và các phương pháp thần học đang được giảng dạy trong các trường với sự chấp thuận của quyền bính Giáo hội, có nên được không chỉ kiện toàn mà còn phải hoàn toàn cải tổ, để việc loan báo Nước Đức Kitô được hữu hiệu hơn giữa nhân loại thuộc mọi nền văn hóa và tín ngưỡng.

12. Nếu những người ấy chỉ muốn thích ứng cách trình bày giáo lý và phương pháp giảng dạy của Hội Thánh với những điều kiện và nhu cầu của thời đại, bằng việc đưa ra một số giải thích mới mẻ, thì hầu như chẳng có lý do nào để phải lo ngại. Nhưng vì nhiệt tình thiếu khôn ngoan cho sự “eirênism”, một số người lại xem chính những điều được Đức Kitô thiết lập — các định luật, nguyên tắc và cơ chế bảo vệ đức tin — như chướng ngại vật cần được dỡ bỏ để đạt tới sự hiệp nhất huynh đệ giữa mọi người. Tuy nhiên, việc loại bỏ những yếu tố nền tảng ấy sẽ chỉ đem lại một thứ “hiệp nhất” giả tạo dẫn đến sự tàn phá của đức tin.

13. Những quan điểm mới này, dù bắt nguồn từ động cơ đáng trách là ham điều mới lạ hay từ ý hướng tốt lành, cũng không phải lúc nào được trình bày một cách đồng nhất. Có người nêu ra cách kín đáo, dè dặt; có người lại công khai và táo bạo hơn. Những điều được nói hôm nay với sự phân biệt thận trọng thì ngày mai lại được kẻ khác công bố một cách cực đoan và không dè giữ, gây gương xấu cho nhiều người, nhất là giới chủng sinh trẻ và làm tổn hại đến uy tín của Giáo quyền. Tuy trong các ấn phẩm chính thức họ còn thận trọng, nhưng trong các tài liệu lưu hành nội bộ, trong các bài giảng, hội thảo, hoặc khóa học, họ lại bộc lộ rõ hơn những quan điểm ấy. Không những thế, các tư tưởng này còn lan rộng trong hàng giáo sĩ, tu sĩ, chủng viện và học viện, thậm chí cả nơi giáo dân, đặc biệt là những người làm công tác giảng dạy thanh thiếu niên.

14. Trong thần học, có những người muốn giảm thiểu tối đa ý nghĩa của các tín điều, giải phóng chúng khỏi thuật ngữ đã được Giáo hội sử dụng lâu đời và khỏi những khái niệm triết học mà các nhà thần học Công giáo đã dùng để diễn đạt, với chủ ý đưa việc trình bày giáo lý trở về lối diễn ngôn của Thánh Kinh và các Giáo phụ. Họ hy vọng rằng, khi tín điều được “tước bỏ” những yếu tố mà họ cho là bên ngoài Mặc Khải, thì sẽ dễ dàng dung hòa với quan điểm tín lý của những người ly khai, và nhờ đó, có thể dần đạt tới một sự hội tụ giữa giáo lý Công giáo và các lập trường khác.

15. Hơn nữa, họ còn khẳng định rằng, khi giáo lý Công giáo đã được giản lược như thế, người ta sẽ tìm ra cách diễn đạt thích hợp với tư duy hiện đại, có thể dùng các khái niệm của triết học đương thời — như nội tại luận, duy tâm, hiện sinh, hay các hệ thống khác — để giải thích tín điều. Một số người táo bạo hơn cho rằng điều đó không chỉ có thể mà còn phải được thực hiện, vì theo họ, các mầu nhiệm đức tin không bao giờ được diễn tả bằng những khái niệm hoàn toàn thích đáng, mà chỉ bằng những khái niệm tương đối, tạm thời và có thể thay đổi, trong đó chân lý được biểu lộ phần nào nhưng tất yếu cũng bị méo mó. Do đó, họ cho rằng thần học cần thay thế những khái niệm cũ bằng những khái niệm mới, tùy theo các hệ thống triết học được dùng như công cụ trong từng thời kỳ, miễn sao vẫn “biểu đạt” được chân lý thần linh, dù bằng những cách khác nhau, thậm chí đối nghịch, nhưng “tương đương” về ý nghĩa — theo cách nói của họ. Họ còn thêm rằng, “lịch sử tín điều” chỉ là việc ghi lại những hình thức khác nhau mà chân lý được mặc khải đã khoác lên qua các thời đại, tương ứng với những trào lưu tư tưởng khác nhau.

16. Từ những điều trên, dễ thấy rằng các nỗ lực như thế không chỉ dẫn tới, mà thực ra đã bao hàm trong nó chủ nghĩa tương đối tín lý (dogmatic relativism). Sự khinh thường các giáo huấn chung và ngôn ngữ chính thống của Hội Thánh chính là mảnh đất nuôi dưỡng khuynh hướng ấy. Ai cũng biết rằng thuật ngữ thần học của các trường phái, cũng như cách diễn đạt của Huấn quyền, đều có thể được hoàn thiện và tinh luyện; hơn nữa, Hội Thánh cũng không luôn dùng cùng một từ ngữ theo cùng một cách trong mọi thời đại. Và dĩ nhiên, Hội Thánh không bị ràng buộc vào bất kỳ hệ thống triết học nào có tính tạm thời. Tuy nhiên, những gì được các nhà thần học Công giáo dày công xây dựng qua nhiều thế kỷ để hiểu biết tín điều cách sâu sắc hơn, không hề được đặt nền trên những cơ sở yếu ớt, nhưng trên những nguyên lý và khái niệm phát xuất từ tri thức chân thật về tạo vật, được soi sáng bởi ánh sáng đức tin và Huấn quyền của Hội Thánh. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều khái niệm ấy được các Công đồng Chung sử dụng và chuẩn nhận, và do đó việc xa rời chúng là điều sai trái.

17. Do đó, khinh thường, bác bỏ hoặc hạ thấp giá trị của những kho tàng to lớn mà các bậc trí giả thánh thiện đã vun đắp qua bao thế kỷ — dưới sự giám sát của Huấn quyền và ơn soi sáng của Thánh Thần — để diễn đạt ngày càng chính xác hơn các chân lý đức tin, rồi thay thế chúng bằng những giả thuyết vô định, những lập thuyết mơ hồ, chóng tàn như hoa đồng nội, thì quả là một sự liều lĩnh cực độ. Việc coi thường ngôn ngữ và khái niệm mà các nhà thần học kinh viện đã sử dụng tất yếu dẫn đến việc làm suy yếu thần học suy luận (speculative theology), vốn bị họ cho là thiếu chắc chắn vì dựa trên lý luận thần học.

18. Đáng buồn thay, những người ưa điều mới ấy dễ dàng đi xa hơn, từ việc coi thường thần học kinh viện đến việc xem nhẹ hoặc khinh chê chính Huấn quyền của Hội Thánh, vốn đã chính thức phê chuẩn nền thần học ấy. Huấn quyền bị họ mô tả như một trở ngại đối với tiến bộ và khoa học. Một số người ngoài Công giáo thậm chí coi đó là một xiềng xích bất công, ngăn cản các thần học gia “cấp tiến” khỏi việc canh tân ngành của họ. Thế nhưng, quyền giảng dạy thánh thiêng này, vốn là chuẩn mực gần và phổ quát của chân lý, đã được Chúa Kitô trao phó trọn vẹn kho tàng đức tin – tức Thánh Kinh và Thánh Truyền – để giữ gìn, bảo vệ và giải thích, thì lẽ ra phải được mọi thần học gia nhìn nhận. Tuy vậy, nghĩa vụ của các tín hữu tránh xa những sai lầm tiệm cận với lạc giáo, và vì thế tuân giữ các sắc lệnh, hiến chế do Tòa Thánh ban hành để kết án các ý kiến sai lạc, lại bị một số người bỏ qua như thể không hề tồn tại.[2] Những gì được trình bày trong các Thông điệp của các Đức Giáo hoàng về bản chất và cơ cấu của Hội Thánh thường bị họ cố tình phớt lờ, nhằm đề cao một khái niệm mơ hồ mà họ cho là rút ra từ các Giáo phụ, đặc biệt là các Giáo phụ Hy Lạp. Họ còn khẳng định rằng các Giáo hoàng không muốn phán quyết về những điều đang còn được tranh luận giữa các thần học gia, và do đó phải trở về với các nguồn cổ xưa, đồng thời giải thích các văn kiện gần đây của Huấn quyền dựa theo văn bản cổ.

19. Những lời nói ấy nghe có vẻ hợp lý, nhưng thực ra ẩn chứa sai lầm. Đúng là các Giáo hoàng thường để thần học gia tự do trong những vấn đề mà các bậc uy tín lớn vẫn còn bất đồng, nhưng lịch sử cho thấy: nhiều điều trước đây còn được phép bàn cãi, nay không còn là đối tượng của tranh luận nữa.

20. Cũng không được cho rằng những gì được trình bày trong các Thông điệp Tòa Thánh không đòi hỏi sự đồng thuận, chỉ vì khi viết những văn kiện ấy, các Giáo hoàng không dùng quyền huấn giáo tối thượng. Thật ra, các điều được dạy trong những Thông điệp ấy thuộc về Huấn quyền thông thường, về đó có lời Chúa phán: “Ai nghe các con là nghe Ta.”[3] Và thường thì những gì được trình bày trong các Thông điệp này vốn đã thuộc về giáo lý Công giáo vì nhiều lý do khác. Nhưng nếu Đức Thánh Cha, trong một văn kiện chính thức, phán quyết dứt khoát về một vấn đề trước đó còn bàn cãi, thì hiển nhiên, theo ý hướng và thẩm quyền của Ngài, vấn đề ấy không còn được xem là tự do tranh luận đối với các thần học gia nữa.

21. Đúng là các thần học gia phải luôn trở về với nguồn mạch Mặc Khải, vì nhiệm vụ của họ là chỉ ra Huấn quyền sống động của Hội Thánh được tìm thấy cách minh nhiên hoặc hàm ẩn trong Thánh Kinh và Thánh Truyền.[4] Mỗi nguồn mạch Mặc Khải đều chứa những kho tàng chân lý phong phú khôn cùng, không bao giờ có thể khai thác hết. Vì thế, việc nghiên cứu sâu xa các nguồn mạch ấy giúp thần học luôn tươi mới và sinh động. Trái lại, suy tư thần học mà bỏ qua việc đào sâu kho tàng đức tin thì sẽ trở nên cằn cỗi, như kinh nghiệm đã chứng minh. Tuy nhiên, vì cùng với các nguồn mạch Mặc Khải, Thiên Chúa còn ban cho Hội Thánh một Huấn quyền sống động để giải thích và soi sáng những gì được chứa đựng trong kho tàng đức tin cách mơ hồ hoặc tiềm ẩn, nên không thể đặt thần học thực chứng ngang hàng với khoa học thuần lịch sử. Chính Đấng Cứu Thế đã trao quyền giải thích đích thực kho tàng đức tin không phải cho từng tín hữu, thậm chí không phải cho riêng các thần học gia, mà chỉ cho Huấn quyền của Hội Thánh. Khi Hội Thánh thi hành quyền này — trong Huấn quyền thông thường hoặc phi thường — thì thật sai lầm nếu ai đó muốn giải thích điều rõ ràng bằng cái còn mơ hồ; phải làm ngược lại. Vì thế, Đức Piô IX, vị tiền nhiệm bất tử của chúng tôi, khi dạy rằng nhiệm vụ cao quý nhất của thần học là chỉ ra làm thế nào một giáo lý được Hội Thánh định tín lại được chứa trong các nguồn Mặc Khải, đã thêm vào một cách xác đáng rằng: “theo nghĩa mà Hội Thánh đã định nghĩa.”

22. Trở lại với các quan điểm mới đã nói ở trên, có người còn nêu ra những điều trái nghịch với tín điều về Thiên Chúa là tác giả Kinh Thánh. Một số người đã xuyên tạc ý nghĩa của định tín Công đồng Vatican I, cho rằng Thiên Chúa là tác giả Thánh Kinh, và tái khẳng định một quan điểm đã nhiều lần bị kết án, rằng ơn vô ngộ chỉ bao trùm những phần nói về Thiên Chúa hoặc về các vấn đề luân lý – tôn giáo, chứ không áp dụng cho toàn bộ Kinh Thánh. Họ còn nói đến một “ý nghĩa nhân loại” của Thánh Kinh, bên dưới đó là “ý nghĩa thần linh”, mà họ cho là duy nhất vô ngộ. Trong việc chú giải, họ không xét đến quy chiếu đức tin (analogia fidei) hay Truyền thống của Hội Thánh; thay vào đó, họ đánh giá giáo lý của các Giáo phụ và Huấn quyền theo tiêu chuẩn của Thánh Kinh được giải thích bằng lý trí tự nhiên của các học giả, thay vì giải thích Thánh Kinh theo ý hướng của Hội Thánh, Đấng mà Đức Kitô đã thiết lập làm người canh giữ và giải thích toàn bộ kho tàng chân lý được mặc khải.

23. Hơn nữa, theo các quan điểm hư cấu của họ, nghĩa văn tự của Thánh Kinh cùng với cách giải thích đã được bao thế hệ các nhà chú giải lỗi lạc khổ công xây dựng dưới sự canh chừng của Hội Thánh, nay phải nhường chỗ cho một lối chú giải mới, mà họ thích gọi là biểu tượng hay thiêng liêng. Nhờ lối chú giải Cựu Ước mới này — mà theo họ, hiện nay trong Hội Thánh vẫn còn như “cuốn sách niêm ấn” — rốt cuộc sẽ được mở ra cho mọi tín hữu. Theo phương pháp ấy, họ nói, mọi khó khăn đều biến mất, những khó khăn vốn chỉ làm trở ngại cho những ai gắn chặt với nghĩa văn tự của Kinh Thánh.

24. Ai cũng thấy tất cả những điều đó xa lạ với các nguyên tắc và quy tắc giải thích đã được các vị tiền nhiệm khả kính của chúng tôi ấn định cách chính đáng: Lêô XIII trong Thông điệp Providentissimus Deus, Bênêđictô XV trong Thông điệp Spiritus Paraclitus, cũng như chính chúng tôi trong Thông điệp Divino Afflante Spiritu.

25. Không lạ gì khi những điều mới lạ như thế đã sinh ra những hoa trái chết chóc gần như trong mọi ngành thần học. Nay người ta nghi ngờ rằng lý trí con người, nếu không có mạc khải và ơn trợ giúp của ân sủng, có thể, bằng các lý chứng rút từ thế giới thụ tạo, chứng minh chắc chắn sự hiện hữu của một Thiên Chúa có ngôi vị; người ta phủ nhận rằng thế giới có khởi đầu; người ta lập luận rằng việc tạo dựng là điều tất yếu, vì nó phát xuất từ lòng quảng đại tất yếu của tình yêu Thiên Chúa; người ta phủ nhận rằng Thiên Chúa biết trước vĩnh cửu và vô ngộ các hành vi tự do của loài người — tất cả những điều ấy trái hẳn với các sắc lệnh của Công đồng Vaticanô I.[5]

26. Có người còn đặt vấn đề liệu các thiên thần có phải là những ngôi vị hay không, và liệu vật chất với tinh thần có khác biệt bản thể hay không. Kẻ khác phá bỏ tính nhưng-không của trật tự siêu nhiên, vì họ nói rằng Thiên Chúa không thể tạo dựng các hữu thể trí khôn mà không định hướng và kêu gọi họ tới thị kiến chân phúc. Chưa hết: bất chấp Công đồng Tren-tô, có người xuyên tạc chính khái niệm tội nguyên tổ, cũng như khái niệm tội lỗi nói chung như một sự xúc phạm đến Thiên Chúa, và cả ý niệm đền tội thay cho chúng ta của Đức Kitô. Có kẻ còn nói rằng tín lý truyền thể (transubstantiatio) — vốn dựa trên khái niệm triết học cổ về bản thể — cần phải điều chỉnh sao cho sự hiện diện thực sự của Đức Kitô trong Thánh Thể bị giảm thành một thứ biểu tượng, theo đó hình thái đã truyền phép chỉ là dấu chỉ hữu hiệu của sự hiện diện thiêng liêng của Đức Kitô và sự kết hợp mật thiết của Người với các chi thể trung thành trong Nhiệm Thể của Người.

27. Có người nói họ không bị ràng buộc bởi giáo lý đã được chúng tôi trình bày trong Thông điệp cách đây vài năm, và dựa trên các Nguồn Mạc Khải, dạy rằng Nhiệm Thể Đức Kitô và Giáo Hội Công giáo Rôma là một và chính là một thực tại duy nhất.[6] Có kẻ làm rỗng thành khẩu hiệu vô nghĩa chân lý dạy rằng cần thuộc về Hội Thánh chân thật để đạt ơn cứu độ đời đời. Sau cùng, có người hạ thấp tính hợp lý đáng tin (credibilitas) của đức tin Kitô giáo.

28. Rõ ràng là những sai lầm như thế đã len lỏi vào nơi một số người con của chúng tôi, những người bị nhiệt tâm thiếu khôn ngoan vì các linh hồn hoặc vì giả khoa học đánh lừa. Với niềm đau xót, chúng tôi buộc lòng một lần nữa nhắc lại những chân lý đã quá quen thuộc, và chỉ rõ với ưu tư mục vụ những sai lầm hiển nhiên và những mối nguy của sai lầm.

29. Ai cũng biết Hội Thánh đánh giá rất cao lý trí con người: vì chính lý trí có nhiệm vụ chứng minh cách chắc chắn sự hiện hữu của Thiên Chúa, duy nhất và có ngôi vị; chứng minh không thể hồ nghi bằng các dấu chỉ thần linh chính nền tảng của đức tin Kitô giáo; diễn đạt cách đúng đắn lề luật mà Đấng Tạo Hóa đã ghi khắc trong tâm hồn con người; và sau cùng, đạt tới một ý niệm — tuy hạn hẹp nhưng phong phú — về các mầu nhiệm.[7] Nhưng lý trí chỉ có thể chu toàn cách an toàn và đúng đắn các chức năng ấy khi được huấn luyện đúng mức, nghĩa là khi được thấm nhuần triết học lành mạnh, vốn từ lâu đã như gia sản do các thời đại Kitô giáo trước truyền lại; hơn nữa, triết học ấy còn có uy tín bậc cao hơn, vì Huấn quyền của Hội Thánh, dưới ánh sáng Mặc Khải, đã cân nhắc các mệnh đề chủ chốt của nó — những điều đã được các bậc thiên tài dần dần triển khai và xác định. Chính triết học này, được Hội Thánh nhìn nhận và đón nhận, bảo vệ giá trị đích thực của tri thức nhân loại, các nguyên lý siêu hình vững chắc như lý do đầy đủ (sufficient reason), nhân quả (causality), cứu cánh (finality), và sau cùng là khả năng của trí khôn đạt tới chân lý chắc chắn và bất biến.

30. Dĩ nhiên, triết học này bàn đến nhiều điều không động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến đức tin hay luân lý; do đó, Hội Thánh để cho các chuyên gia tự do thảo luận. Nhưng không phải vậy đối với nhiều điểm khác, nhất là đối với các nguyên lý và mệnh đề nền tảng mà chúng tôi vừa nói. Dầu thế, ngay cả trong những vấn đề nền tảng này, chúng ta có thể khoác cho triết học của mình một y phục tiện lợi và phong phú hơn, làm cho nó sinh động nhờ thuật ngữ hiệu quả hơn, loại bỏ cách thận trọng một số trợ cụ kinh viện ít hữu ích, làm phong phú nó cách khôn ngoan bằng hoa trái tiến bộ của trí tuệ nhân loại. Nhưng không bao giờ được phá đổ nó, hoặc làm ô nhiễm nó bằng những nguyên lý sai lạc, hoặc xem nó như một di tích lớn lao nhưng lỗi thời. Vì chân lý và cách diễn đạt triết học của chân lý không thể thay đổi từng ngày, nhất là khi bàn đến những nguyên lý hiển nhiên của trí khôn hoặc những mệnh đề được minh chứng bởi sự khôn ngoan của muôn thế hệ và bởi Mặc Khải. Bất cứ chân lý mới nào mà trí khôn chân thành có thể khám phá, chắc chắn không thể đối nghịch với chân lý đã đạt được, vì Thiên Chúa, Chân Lý Tối Cao, đã dựng nên và hướng dẫn trí khôn con người không phải để mỗi ngày chống đối các chân lý mới với các chân lý đã được xác lập đúng đắn, nhưng là để, sau khi loại bỏ các sai lầm có thể len vào, xây dựng chân lý trên chân lý, theo trật tự và cấu trúc vốn hiện hữu trong thực tại, là nguồn mạch của chân lý. Vì thế, đừng có Kitô hữu nào — dù là triết gia hay thần học gia — vội vàng đón nhận mọi điều mới lạ nảy sinh mỗi ngày; trái lại, hãy cân nhắc chúng bằng sự cẩn trọng kiên nhẫn và phán đoán quân bình, kẻo họ đánh mất hoặc làm hư hoại chân lý mình đang nắm giữ, với nguy cơ nghiêm trọng và tổn hại cho đức tin.

31. Nếu suy xét kỹ mọi điều ấy, người ta sẽ dễ thấy vì sao Hội Thánh đòi buộc các ứng sinh linh mục phải được đào tạo triết học “theo phương pháp, học thuyết và các nguyên tắc của Tiến Sĩ Thiên Thần (Thánh Tôma Aquinô)”,[8] bởi vì — như kinh nghiệm nhiều thế kỷ cho chúng ta biết — phương pháp của thánh Tôma xuất sắc đặc biệt cả trong việc giảng dạy lẫn trong việc làm sáng tỏ chân lý; học thuyết của ngài hòa hợp với Mặc Khải và hiệu quả nhất trong việc bảo vệ nền tảng đức tin, cũng như trong việc lãnh nhận cách an toàn và hữu ích hoa trái của tiến bộ lành mạnh.[9]

32. Thật đáng tiếc biết bao khi triết học này — vốn được Hội Thánh đón nhận và trân trọng — lại bị một số người khinh chê, không ngần ngại gọi là lỗi thời về hình thức và duy lý — như họ nói — trong phương pháp tư duy. Họ nói triết học này duy trì một quan niệm sai lầm rằng có thể có một siêu hình học tuyệt đối chân thật; trong khi thực ra — theo họ — thực tại, nhất là thực tại siêu việt, không thể diễn đạt cách tốt hơn ngoài những học thuyết khác biệt, bổ túc lẫn nhau, dù xét theo một nghĩa nào đó lại đối nghịch nhau. Triết học truyền thống của chúng ta, với lối trình bày mạch lạc, giải quyết vấn đề rành rọt, định nghĩa chính xác, phân biệt rạch ròi, — họ miễn cưỡng thừa nhận — có thể hữu ích như một chuẩn bị cho thần học kinh viện, thích hợp với não trạng Trung cổ; nhưng triết học này khó cung cấp một phương pháp triết luận phù hợp nhu cầu văn hóa hiện đại. Sau cùng, họ quả quyết “triết học muôn thuở” của chúng ta chỉ là triết học về các bản thể bất biến, còn tư duy đương đại thì phải hướng đến hiện hữu của sự vật và đời sống vốn luôn biến dịch. Trong khi khinh miệt triết học của chúng ta, họ lại tán dương đủ loại triết học cổ kim, Đông Tây, khiến người ta hiểu rằng bất cứ triết học hay học thuyết nào, với vài bổ sung hay chỉnh sửa nếu cần, đều có thể dung hòa với tín điều Công giáo. Không một người Công giáo nào có thể nghi ngờ sự sai lầm của điều đó, nhất là khi bàn đến những thuyết hư cấu mà họ gọi là nội tại luận (immanentism), duy tâm (idealism) hay duy vật (materialism) — dù là lịch sử hay biện chứng — hoặc ngay cả hiện sinh (existentialism) — vô thần hay phủ nhận giá trị của lý trí trong lãnh vực siêu hình.

33. Sau cùng, họ chê trách triết học được giảng dạy trong các trường của chúng ta là chỉ kể đến trí năng trong quá trình nhận thức, mà lơ là vai trò của ý chí và tình cảm. Điều này hoàn toàn không đúng. Triết học Kitô giáo chưa bao giờ phủ nhận ích lợi và hiệu năng của các tâm tình tốt lành trong việc nhận biết và đón nhận các chân lý luân lý và tôn giáo; trái lại, triết học ấy luôn dạy rằng thiếu các tâm tình thiện chí có thể là lý do khiến trí khôn, bị dục vọng và xu hướng xấu chi phối, trở nên u tối đến độ không còn thấy rõ. Thật vậy, thánh Tôma chủ trương rằng trí tuệ theo một nghĩa nào đó có thể cảm thấu các thiện hảo cao hơn thuộc trật tự luân lý, tự nhiên hay siêu nhiên, trong mức độ nó có một sự “đồng bản tính” (connaturalitas) nào đó với các thiện hảo ấy — cho dù sự “đồng bản tính” này là tự nhiên hay do ân sủng;[10] và dễ hiểu biết bao khi chính trực giác mơ hồ ấy vẫn có thể giúp ích cho lý trí trong công cuộc suy cứu của mình. Tuy nhiên, một chuyện là thừa nhận năng lực của các khuynh hướng ý chí trong việc giúp lý trí đạt tới tri thức chắc chắn và vững vàng hơn về các chân lý luân lý; còn chuyện khác hẳn là — như những người canh tân này làm — trộn lẫn nhận thức với hành vi ý chí, mà quả quyết rằng các năng lực ước muốn và cảm xúc cũng có năng lực hiểu biết nào đó, và rằng con người, vì không thể bằng lý trí quyết định cách chắc chắn điều gì là chân và đáng chấp nhận, nên quay sang ý chí, nhờ đó tự do chọn lựa giữa những ý kiến đối nghịch.

34. Không có gì lạ khi những quan điểm mới này đe doạ hai ngành triết học vốn, do bản chất, gắn bó mật thiết với giáo lý đức tin, tức là thần học tự nhiên (theodicy) và luân lý học (ethics). Họ cho rằng chức năng của hai khoa này không phải là chứng minh chắc chắn điều gì về Thiên Chúa hay bất cứ hữu thể siêu nghiệm nào, nhưng là chứng tỏ rằng các chân lý đức tin dạy về Thiên Chúa có ngôi vị và các giới răn của Người phù hợp hoàn toàn với đòi hỏi của đời sống, và vì thế mọi người phải chấp nhận, để tránh tuyệt vọng và đạt ơn cứu độ đời đời. Tất cả những ý kiến và khẳng định ấy công khai trái nghịch với các văn kiện của các vị tiền nhiệm của Chúng Tôi là Lêô XIII và Piô X, và không thể hoà giải với các sắc lệnh của Công đồng Vaticanô I. Thật ra, đã không cần phải than phiền về những lệch lạc ấy khỏi chân lý, nếu mọi người — kể cả trong lãnh vực triết học — biết kính cẩn hướng về Huấn quyền của Hội Thánh, là Đấng do thiết định thần linh không chỉ có sứ mạng gìn giữ và giải thích kho tàng chân lý mặc khải, mà còn canh chừng chính các khoa học triết học, để các tín điều Công giáo không bị tổn hại vì những quan điểm sai lạc.

35. Giờ đây còn lại cho Chúng Tôi bàn tới những vấn đề tuy thuộc các khoa học thực nghiệm, nhưng ít nhiều liên quan tới các chân lý của đức tin Kitô giáo. Thực vậy, không ít người tha thiết đòi hỏi rằng tôn giáo Công giáo phải lưu tâm tới các khoa học này hết sức có thể. Điều ấy hẳn là đáng khen khi nói tới các dữ kiện đã được chứng minh rõ ràng; nhưng cần thận trọng khi chỉ là các giả thuyết — dẫu có nền tảng khoa học nào đó — mà giáo lý chứa trong Thánh Kinh hoặc Thánh Truyền bị liên luỵ. Nếu những ý kiến suy đoán như thế trực tiếp hay gián tiếp đối nghịch với giáo lý do Thiên Chúa mặc khải, thì đòi hỏi cho chúng được công nhận không thể chấp nhận bất cứ cách nào.

36. Vì những lẽ ấy, Huấn quyền của Hội Thánh không cấm — phù hợp với trình độ hiện nay của các khoa học nhân văn và thần học thánh — việc nghiên cứu và thảo luận do những người thạo cả hai lãnh vực thực hiện, liên quan tới học thuyết tiến hoá, trong mức độ học thuyết này tra vấn về nguồn gốc thân xác con người như phát sinh từ vật chất sống có trước; vì đức tin Công giáo buộc chúng ta phải giữ vững rằng linh hồn thì do Thiên Chúa trực tiếp sáng tạo. Tuy nhiên, điều này phải được thực hiện sao cho các lý do của cả hai lập trường — thuận và nghịch với thuyết tiến hoá — đều được cân nhắc và phán đoán với sự nghiêm túc, điều độ và chừng mực cần thiết; và với điều kiện là mọi người sẵn sàng vâng phục phán quyết của Hội Thánh, Đấng mà Đức Kitô đã trao sứ mạng giải thích đích thực Thánh Kinh và bảo vệ các tín điều đức tin.[11] Tuy vậy, có những người vượt quá giới hạn tự do thảo luận này cách hấp tấp, khi hành xử như thể nguồn gốc thân xác con người từ vật chất sống có trước đã hoàn toàn chắc chắn và được chứng minh bằng các dữ kiện hiện có và lý luận dựa trên các dữ kiện ấy; và như thể trong các nguồn mạch Mặc Khải không có gì đòi hỏi phải thận trọng và dè dặt tối đa trong vấn đề này.

37. Tuy nhiên, khi bàn đến một ý kiến suy đoán khác, tức là đa nguyên nguồn gốc (polygenism), thì con cái Hội Thánh không hề được hưởng tự do như thế. Quả vậy, các tín hữu không thể chấp nhận ý kiến cho rằng sau Ađam đã từng hiện hữu trên địa cầu những con người đích thực không phát sinh qua sinh sản tự nhiên từ ông như tổ phụ thứ nhất của mọi người; hay cho rằng Ađam chỉ đại diện cho một số người đầu tiên. Hiện nay không cách nào thấy rõ làm sao ý kiến như vậy có thể hoà hợp với điều mà các nguồn chân lý mặc khải và các văn kiện của Huấn quyền Hội Thánh trình bày về tội nguyên tổ: là phát sinh từ một tội thực sự do chính một Ađam cá vị phạm và được truyền cho mọi người qua việc sinh sản, và hiện hữu nơi mỗi người như tội của riêng họ.[12]

38. Tương tự như trong sinh học và nhân học, trong các khoa học lịch sử cũng có những người mạo muội vượt quá các giới hạn và hàng rào bảo vệ do Hội Thánh thiết lập. Cần phải cực lực than phiền cách riêng về lối giải thích quá phóng túng các sách lịch sử của Cựu Ước. Những người chủ trương hệ thống này, để bảo vệ lập trường, đã dẫn sai bức Thư mà Ủy ban Giáo hoàng về Kinh Thánh mới đây gửi cho Tổng Giám mục Paris.[13] Thực ra, bức thư ấy nêu rõ rằng mười một chương đầu sách Sáng thế — dẫu đúng ra không phù hợp với phương pháp lịch sử của các tác giả Hy–La ưu tú hay của các soạn giả có thẩm quyền thời nay — tuy nhiên vẫn thuộc về lịch sử theo một nghĩa đích thực, nghĩa phải được các nhà chú giải tiếp tục nghiên cứu và xác định thêm. Các chương ấy — bức thư nhấn mạnh — với ngôn ngữ đơn sơ và ẩn dụ, thích hợp với não trạng của một dân ít học, vừa trình bày các chân lý chủ chốt làm nền tảng cho ơn cứu độ, vừa mô tả bình dân nguồn gốc nhân loại và dân riêng. Nếu các thánh tác giả xưa có lấy điều gì từ các truyện kể phổ thông (điều này có thể chấp nhận), thì không bao giờ được quên rằng họ đã làm như thế dưới ơn linh hứng của Thiên Chúa, nhờ đó được gìn giữ khỏi mọi sai lầm trong việc chọn lựa và đánh giá các tư liệu ấy.

39. Vì thế, bất cứ điều gì của các truyện kể bình dân đã được đưa vào Thánh Kinh tuyệt đối không được coi ngang hàng với huyền thoại hay những thứ tương tự, vốn là sản phẩm của trí tưởng tượng phóng túng hơn là của nỗ lực mưu cầu chân lý và giản dị, điều mà nơi các Sách Thánh, kể cả Cựu Ước, quá hiển nhiên đến nỗi chúng ta phải thừa nhận rằng các thánh tác giả xưa trổi vượt rõ ràng so với các soạn giả ngoại giáo cổ đại.

40. Quả thật, chúng tôi biết đa số các học giả Công giáo — hoa trái của công trình học hỏi của họ đang được thu lượm tại các đại học, chủng viện và học viện dòng tu — rất xa các sai lầm đang ngày nay công khai hoặc âm thầm gieo rắc, hoặc vì ham điều mới, hoặc vì một nhiệt tâm tông đồ quá trớn. Nhưng chúng tôi cũng biết rằng những quan điểm mới ấy có thể quyến rũ những ai thiếu cảnh giác; vì vậy chúng tôi thích ngăn chặn từ đầu hơn là cho thuốc khi bệnh đã thành mãn tính.

41. Bởi lẽ đó, sau khi chín chắn suy tư trước mặt Thiên Chúa, để khỏi thiếu sót trong nhiệm vụ thánh của mình, chúng tôi trân trọng truyền cho các Giám mục và Bề trên Tổng quyền của các dòng tu, ràng buộc nặng nề trong lương tâm, phải hết sức cẩn trọng để những quan điểm như trên không được đưa ra trong các trường học, các hội thảo hoặc trong bất cứ loại ấn phẩm nào; và tuyệt đối không được giảng dạy cho hàng giáo sĩ hay các tín hữu bằng bất cứ hình thức nào.

42. Các giảng sư trong các học viện Giáo hội hãy ý thức rằng họ không thể với lương tâm thanh thản mà thi hành sứ vụ giảng dạy đã được uỷ thác, nếu trong việc huấn luyện sinh viên, họ không tuân thủ cách đạo đức và chính xác các chuẩn mực mà chúng tôi đã ấn định. Lòng kính cẩn và vâng phục phải bày tỏ không ngừng đối với Huấn quyền Hội Thánh trong công việc của mình, các giảng sư cũng hãy gieo khắc vào tâm trí và con tim học trò.

43. Họ hãy hết sức và bằng mọi nỗ lực thúc đẩy tiến bộ các ngành mà họ giảng dạy; nhưng cũng hãy cẩn trọng đừng vượt quá các giới hạn mà chúng tôi đã đặt ra để bảo vệ chân lý của đức tin và giáo lý Công giáo. Đối với các vấn đề mới, do văn hoá hiện đại và tiến bộ nêu lên phía trước, họ hãy nghiên cứu kỹ lưỡng nhất, nhưng với sự khôn ngoan và thận trọng cần thiết; sau cùng, đừng tưởng — chiều theo một thứ “irenism” giả tạo — rằng những người ly khai hay lầm lạc có thể vui vẻ trở về lòng Hội Thánh, nếu toàn bộ chân lý tìm thấy nơi Hội Thánh không được chân thành giảng dạy cho mọi người, không bị bóp méo hay giảm thiểu.

44. Cậy dựa vào niềm hy vọng này — sẽ được gia tăng nhờ mục vụ ân cần của anh em — như bảo chứng cho ân huệ thiên quốc và dấu chỉ lòng phụ tử nhân hậu của Chúng Tôi, Chúng Tôi hết lòng ban cho từng người và hết thảy anh em, các Huynh Đệ đáng kính, cũng như cho hàng giáo sĩ và giáo dân của anh em, Phép Lành Tông Toà.

Ban tại Rôma, đền thờ Thánh Phêrô, ngày 12 tháng 8 năm 1950, năm thứ mười hai triều đại Giáo hoàng của Chúng Tôi.
PIÔ XII​


1. Conc. Vatic. D.B., 1876, Cont. De Fide cath., cap. 2, De revelatione.
→ Công đồng Vaticanô I, trong Hiến chế tín lý Dei Filius, chương 2: Về Mạc Khải.
(Denzinger–Bannwart, số 1876).

2. C.I.C., can. 1324; cfr. Conc. Vat., D.B., 1820, Cont. De Fide cath., cap. 4, De Fide et ratione, post canones.
→ Bộ Giáo luật 1917, điều 1324; so sánh với Công đồng Vaticanô I, Dei Filius, chương 4: Về đức tin và lý trí, sau phần các khoản tuyên tín.
(Denzinger, số 1820).

3. Luke, X, 16
→ Trích Tin Mừng Luca 10,16: “Ai nghe các con là nghe Ta.”

4. Pius IX, Inter gravissimas, 28 oct., 1870, Acta, vol. I, p. 260.
→ Đức Piô IX, văn kiện Inter gravissimas (28.10.1870), Acta Sanctae Sedis, tập I, trang 260.
— Dạy về bổn phận của thần học trong việc quy chiếu mọi giáo huấn về nghĩa Hội Thánh đã định nghĩa.

5. Cfr. Conc. Vat., Const. De Fide cath., cap. 1, De Deo rerum omnium creatore.
→ So sánh Hiến chế tín lý về Đức tin Công giáo, chương 1: Về Thiên Chúa – Đấng tạo dựng muôn loài, Công đồng Vaticanô I.

6. Cfr. Litt. Enc. Mystici Corporis Christi, A.A.S., vol. XXXV, p. 193 sq.
→ So sánh Thông điệp Mystici Corporis Christi (Đức Piô XII, 1943), A.A.S. tập 35, trang 193 và tiếp theo — dạy rằng Nhiệm Thể Đức Kitô chính là Giáo Hội Công giáo Rôma.

7. Cfr. Conc. Vat., D.B., 1796.
→ So sánh Công đồng Vaticanô I, Dei Filius, Denzinger số 1796 — về vai trò của lý trí con người trong việc nhận biết Thiên Chúa.

8. C. I. C. can. 1366, 2.
→ Bộ Giáo luật 1917, điều 1366, §2 — quy định việc đào tạo ứng sinh linh mục trong triết học theo phương pháp và học thuyết Thánh Tôma Aquinô.

9. A.A.S., vol. XXXVIII, 1946, p. 387.
→ Acta Apostolicae Sedis, tập 38 (năm 1946), trang 387 — có thể ám chỉ Thông điệp hoặc huấn từ của Đức Piô XII về học thuyết triết học của Thánh Tôma.

10. Cfr. St. Thom., Summa Theol., II-II, quaest. 1, art. 4 ad 3 et quaest. 45, art. 2, in c.
→ So sánh Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae, II–II, vấn đề 1, điều 4, đáp 3; và vấn đề 45, điều 2, thân bài — nơi ngài dạy về “connaturalitas” (sự đồng bản tính) trong tri thức luân lý.

11. Cfr. Allocut Pont. to the members of the Academy of Science, November 30, 1941: A.A.S., vol. XXXIII, p. 506.
→ So sánh Huấn từ của Đức Piô XII gửi Viện Hàn lâm Khoa học Toà Thánh (30.11.1941), A.A.S. tập 33, trang 506 — liên quan đến nguồn gốc con người và vai trò của khoa học thực nghiệm.

12. Cfr. Rom., V, 12-19; Conc. Trid., sess. V, can. 1-4.
→ So sánh Rm 5,12–19 và Công đồng Tren-tô, khóa họp V, các khoản 1–4 — về tội nguyên tổ và sự truyền tội qua sinh sản.

13. January 16, 1948: A.A.S., vol. XL, pp. 45-48.
→ Ngày 16.01.1948, A.A.S. tập 40, trang 45–48 — Thư của Ủy ban Giáo hoàng về Kinh Thánh gửi Tổng Giám mục Paris, bàn về các chương đầu sách Sáng thế và tính lịch sử – biểu tượng của chúng.​
 

Những lời nói dối được xem là "vô hại" có được phép không?

Sống trên đời, không ai thích người khác lừa dối mình dù đó là những lời nói dối "vô hại", nhưng nhiều người vẫn sẵn sàng nói dối vì cho rằng, đó là những lời nói dối không gây hại cho ai, đôi khi còn cần thiết để tránh làm tổn thương mọi người. Vậy, những lời nói dối được cho là "vô hại" có được phép không? 17273 Ảnh: Báo Thanh Niên Lý do khiến người ta nói dối Cần phải xác định rõ, tự nó, nối dối là một hành vi xấu về mặt luân lý. Nhưng nhiều người vẫn cho phép...

Việc cầu nguyện trước mỗi quyết định là gì?

Mỗi khi đứng trước một chọn lựa quan trọng, người Kitô hữu thường được khuyên: “Hãy cầu nguyện về điều đó.” Lời khuyên ấy quen thuộc đến mức đôi khi trở thành một phản xạ trước khi chọn ngành học, đổi công việc, lập gia đình, mua nhà, dấn thân phục vụ hay sử dụng tiền bạc, người ta được nhắc phải đặt quyết định của mình trước mặt Chúa. 17180 Đó là một lời khuyên đúng. Nhưng nếu không hiểu đúng, người tín hữu có thể biến cầu nguyện thành một cách tìm kiếm câu trả lời có sẵn, như thể...

Các Đức Giáo hoàng nói gì về việc vỗ tay trong thánh lễ?

Một trong những vấn nạn liên quan tới phụng vụ được nhiều người đặt ra là: có nên vỗ tay tán thưởng vị linh mục sau một bài giảng hay, một ca đoàn sau một bài hát gây cảm hứng, hay vỗ tay sau nghi thức thánh tẩy, hôn phối…? 17096 Trước tiên, cần khẳng định, chưa có giáo huấn chính thức nào của Giáo hội về vấn đề tế nhị này. Vì vậy, cũng có nhiều khuynh hướng và lối giải thích khác nhau. Dưới đây là lập trường của một số vị lãnh đạo Giáo hội. Trong cuốn Tinh thần Phụng...

Motets and Madrigals

0 lượt xem

Bài viết chờ bạn bình luận

Bên trên