Thành viên
- Tham gia
- 20/5/25
- Bài viết
- 71
- Chủ đề Author
- #1
Trong sứ điệp gửi Đại hội Triết học Quốc tế tại Paraguay, Đức Thánh Cha Lêô XIV khẳng định rằng triết học và đức tin không đối nghịch nhưng bổ túc cho nhau trong hành trình tìm kiếm chân lý. Ngài mời gọi các triết gia Kitô hữu trở thành “chứng nhân của Sự Khôn Ngoan”, dấn thân vào đối thoại giữa lý trí và đức tin, giữa Giáo Hội và thế giới, để giúp con người thời nay khám phá lại phẩm giá, ý nghĩa và hướng đi của cuộc sống dưới ánh sáng của Thiên Chúa.
Ảnh: Vatican News
SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
NHÂN DỊP ĐẠI HỘI QUỐC TẾ VỀ TRIẾT HỌC
(Đại học Công giáo Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội Asunción, Paraguay, 8–10 tháng 10 năm 2025)
(Đại học Công giáo Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội Asunción, Paraguay, 8–10 tháng 10 năm 2025)
Anh chị em thân mến,
Trước hết, tôi xin gửi lời chào thăm thân tình đến Đức Cha Francisco Javier Pistilli Scorzara, Đại chưởng ấn của Đại học Công giáo Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội Asunción, cùng toàn thể ban tổ chức và các tham dự viên của Đại hội quốc tế này, nơi quy tụ để suy tư về vai trò và ý nghĩa của tư tưởng triết học Kitô giáo trong việc hình thành nền văn hóa của châu lục, hầu soi sáng những thách đố của thời đại dưới ánh sáng đức tin.
Đại hội này mong muốn trở thành một không gian “gặp gỡ, nhận định, đối thoại và định hướng”. Việc tìm kiếm sự gặp gỡ là một mục tiêu đáng trân trọng, đối nghịch với cám dỗ của một số người cho rằng tư duy lý trí – vì khởi nguồn trong thế giới ngoại giáo – có thể làm “ô nhiễm” sự tinh tuyền của đức tin Kitô giáo. Đức Piô XII, trong Thông điệp Humani generis, đã cảnh báo về thái độ của những ai, nhân danh việc tôn vinh Lời Chúa, mà lại hạ thấp giá trị của lý trí con người (số 4). Sự ngờ vực này đối với triết học cũng xuất hiện nơi một số tác giả cận đại, như nhà thần học cải cách Karl Barth. Trước quan điểm ấy, Thánh Augustinô đã nhắc nhớ: “Ai cho rằng cần phải tránh xa triết học hoàn toàn, thì người ấy cũng đòi chúng ta đừng yêu mến sự khôn ngoan nữa” (De ordine, I, 11, 32). Vì thế, người tín hữu không nên xa lánh những gì các trường phái triết học trình bày, nhưng cần đối thoại với chúng trong ánh sáng của Thánh Kinh.
Như thế, tư tưởng triết học trở thành không gian gặp gỡ đặc biệt với những người không cùng chia sẻ ân ban đức tin. Từ kinh nghiệm của chính tôi, sự vô tín thường gắn liền với một chuỗi định kiến – lịch sử, triết học hay văn hóa. Không biến triết học thành một công cụ biện giáo đơn thuần, ta có thể thấy biết bao điều thiện hảo mà một triết gia có đức tin có thể đem lại qua đời sống chứng tá của mình, đúng như lời Thánh Phêrô khuyên: “Hãy tôn Đức Kitô là Chúa ngự trị trong lòng anh em, và luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai hỏi về niềm hy vọng của anh em” (1 Pr 3,15).
Mục tiêu thứ hai, là nhận định, giúp chúng ta vạch trần ảo tưởng cho rằng con người có thể đạt đến tri thức siêu việt chỉ nhờ phân tích lý trí, và vì thế đồng hóa những giá trị của đời sống “theo lý trí” với những ân ban chỉ có thể nhận được nhờ ơn thánh. Trong thời Cổ đại, tu sĩ Pelagiô từng chủ trương rằng chỉ cần ý chí con người là đủ để tuân giữ các giới răn, mà không cần đến ân sủng của Thiên Chúa – một quan điểm mà Thánh Augustinô đã bác bỏ cách sâu sắc. Đến thời Cận đại, G.W.F. Hegel, với học thuyết về “Thần trí tuyệt đối”, đã đặt đức tin dưới quyền chi phối của lý trí. Nơi nhiều nhà tư tưởng khác, ta cũng gặp thấy ảo tưởng tương tự: nghĩ rằng lý trí và ý chí tự chúng đủ để đạt đến chân lý.
Chúng ta đừng quên rằng triết học, tuy là nỗ lực cao quý của trí tuệ con người, nhưng cũng đầy hiểm nguy. Nó có thể vươn lên tới những đỉnh cao soi sáng và thanh luyện nhân tâm, nhưng cũng có thể sa xuống vực thẳm u tối của bi quan, của chủ nghĩa khinh người và thuyết tương đối – khi lý trí khép mình trước ánh sáng đức tin và trở thành cái bóng của chính nó. Không phải mọi thứ được khoác lên danh xưng “lý trí” hay “triết học” đều có cùng giá trị: giá trị thật của nó được đo bằng mức độ hòa hợp với chân lý của hữu thể và với ân sủng soi sáng mọi trí khôn. Với lòng cảm thông chân thành, chúng ta cần góp phần để hoạt động triết học thật sự tôn vinh phẩm giá con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, giúp phân định rõ thiện và ác, và khám phá ra vẻ đẹp trật tự của thực tại dẫn con người về cùng Đấng Sáng Tạo và Cứu Chuộc.
Bước kế tiếp là đối thoại, một điều đã sinh hoa trái dồi dào nơi các nhà tư tưởng, thần học gia và triết gia Kitô giáo vĩ đại. Các ngài đã chứng minh rằng lý trí con người là một ân huệ được chính Đấng Tạo Hóa muốn ban, và rằng cuộc kiếm tìm sâu xa nhất của trí tuệ con người chính là khát vọng đạt tới sự Khôn Ngoan, Đấng tỏ mình trong công trình sáng tạo và đạt đến tột đỉnh trong cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Kitô, Đấng mạc khải Chúa Cha. Cái nhìn ấy đã được nhận ra từ thế kỷ II nơi thánh Giustinô, triết gia và tử đạo, rồi tiếp nối qua những tên tuổi vĩ đại như thánh Bônaventura hay thánh Tôma Aquinô, cho thấy rằng đức tin và lý trí không đối nghịch, mà nâng đỡ và bổ túc cho nhau cách kỳ diệu. Như thánh Gioan Phaolô II từng nói: “Mối dây liên kết sâu xa giữa sự khôn ngoan thần học và tri thức triết học là một trong những kho tàng quý giá nhất của truyền thống Kitô giáo trong việc đào sâu chân lý mạc khải” (Fides et Ratio, số 105).
Người Kitô hữu làm triết học được mời gọi trở thành một chứng tá sống động cho ơn gọi đích thực của triết học – là cuộc kiếm tìm trung thực và bền bỉ hướng tới Sự Khôn Ngoan. Trong một thời đại mà mọi sự – kể cả con người – dễ bị coi là có thể bị thay thế, và khi tiến bộ kỹ thuật dường như che mờ đi những vấn đề tối hậu của hiện sinh, triết học vẫn có rất nhiều điều để chất vấn và cống hiến, đặc biệt trong đối thoại giữa đức tin và lý trí, giữa Giáo Hội và thế giới.
Sau cùng, “định hướng” (proiezione) được trao cho chúng ta như một nhiệm vụ ở giao điểm giữa triết học và đức tin. Thật vậy, triết học – hơn cả những câu trả lời – chính là nơi phát sinh những câu hỏi giúp ta khám phá cốt lõi giá trị và cả những giới hạn của mọi nền văn hóa. Trong chiều hướng đó, các triết gia có đức tin không thể chỉ trình bày, dù bằng ngôn ngữ tinh tế, những điều riêng biệt của nền văn hóa mình. Văn hóa, tự nó, không thể là cùng đích. Thánh Augustinô dạy rằng, ta không nên yêu mến chân lý chỉ vì nó được diễn tả bởi triết gia này hay triết gia kia, “nhưng hãy yêu mến nó vì chính nó là Chân Lý, cho dù không một triết gia nào từng nhận ra” (Thư gửi Dioscorus, 118, IV, 26).
Vì thế, không được đánh mất sự phong phú văn hóa riêng, nhưng cũng cần biết đặt nó trong tương quan với các truyền thống tư tưởng lớn khác. Như vậy, đóng góp của họ sẽ trở nên phong phú hơn, và nếu các giám mục, linh mục, và nhà truyền giáo – những người được sai đi loan báo Tin Mừng – được huấn luyện nhờ nền triết học này, thì sứ điệp cứu độ sẽ được chuyển tải bằng một ngôn ngữ dễ hiểu và phù hợp hơn với con người thời nay.
Phó dâng kết quả công việc của anh chị em cho Chúa, tôi cầu xin Đức Trinh Nữ Maria, Tòa Đấng Khôn Ngoan, chở che và hướng dẫn anh chị em, và tôi ân cần ban Phép lành Tông tòa như bảo chứng của muôn ơn lành từ trời.
Tại Vatican, ngày 3 tháng 10 năm 2025
LEÔ XIV
Cùng chủ đề
