Tủ sách J.H. Newman: Về đức tin

5.00 star(s) 1 Vote
  • Chủ đề Author

Đức tin, cùng với đức cậy và đức mến (hay đức ái) là ba chân kiềng đức hạnh của đời sống tín ngưỡng Ki-tô giáo. Bộ ba “đức” này là những sáng tạo ngôn ngữ đặc sắc từ những buổi đầu của Ki-tô giáo tiếng Việt, đi thẳng ra từ các tín thư của Paulos (Thessalonia-1, Korintho-1) và được các giáo phụ xuyên suốt các thế kỷ diễn giải và được ghi vào Giáo lý Công giáo.​


phailamgi_Tủ sách J.H. Newman Về đức tin_cv1.jpg


Ngày nay ít thấy ai dùng các từ “đức cậy”, “đức mến”, và thường được thay bằng “hy vọng” và “tình yêu”, nhưng “đức tin” thì vẫn phổ quát. “Đức tin” xuất hiện gần 250 lần trong Tân Ước, và 144 lần ở dạng động từ, và do đó là một trong những khái niệm nền tảng của Ki-tô giáo. Vế đầu của câu 11:1 trong Thư Hebrew gợi ý một vấn đề trọng yếu của những người có đời sống đức tin: đức tin là gì?

Ἔστιν δὲ πίστις ἐλπιζομένων ὑπόστασις[, πραγμάτων ἔλεγχος οὐ βλεπομένων.]

Vài bản kinh tiếng Việt dịch ὑπόστασις là “bảo đảm” (và là bảo đảm “cho”). “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng” (bản dịch của NPDCGKPV). Một số các bản kinh tiếng Anh dùng chữ cùng nghĩa, assurance.

Chữ ὑπόστασις có nhiều nghĩa. Một trong số đó là sự thiết yếu, cấu trúc thiết yếu của một thực thể, thực tại. Khi đi ở trạng thái genitive “của” thì nó còn có nghĩa là một sự tuyên xưng về khả năng có thể trở nên thực tại. Bản kinh trên trang web của Hội đồng Giám mục Mỹ dùng chữ realization, sự nhận ra điều gì đó là thực, sự trở thành thực tại: faith is the realization of what is hoped for. Đức tin là cấu trúc thiết yếu, là sự hiện thực hóa của những điều mong đợi.

Chữ “của”, khi dịch trạng thái genitive, mà không phải là “cho” (như trong các bản dịch tiếng Việt), gợi ý rằng sự bảo đảm hay cấu trúc thiết yếu hay sự hiện thực hóa này thuộc về những điều hy vọng mà không phải là “cho” chúng. Tự những điều hy vọng đã chứa sẵn sự bảo đảm hay cấu trúc thiết yếu hay sự hiện thực hóa, và thực thể này là đức tin. Góp hai ý này lại, câu kinh ở trên gợi ý một hình dung về cái “cơ chế” mà món quà được tặng. Nói cách khác, phải mong đợi điều gì đó thì mới nhận ra món quà tặng đức tin.

Bản dịch Tân Ước của Tủ sách J.H. Newman không dùng chữ “đức tin”, mà trong bản Hy Lạp là πίστις (pistis). Khi là động từ thì nó được dịch là “tin” hay “trung tín” và khi là danh từ thì nó được dịch là sự trung tín. “Trung tín” trong “sự trung tín của Thiên Chúa”, như ở câu 3:3 của Thư gởi người Roma, và “trung tín” trong sự trung tín, hay “đức tin”, của chúng ta là đồng nghĩa: Thiên Chúa trung tín với giao ước và trông đợi chúng ta cũng trung tín với giao ước đó. Đây là nội hàm chính yếu của “đức tin”. Đức tin không chỉ là sự đồng thuận mang tính tri thức đối với những mệnh đề, không chỉ là cảm nhận tín ngưỡng riêng tư, không chỉ là sự tin tưởng tách rời sự thật, không chỉ là một trang thái tâm lý; vì nếu chỉ như thế thì đức tin bị giản lược thành những gì thuộc về chúng ta. Đức tin không tạo ra giao ước; đức tin là hành vi mà qua đó một người đón nhận và bằng lòng đứng vào trong giao ước đó. Đức tin giao ước, do đó, là sự trung tín trong quan hệ với Thiên Chúa. Thánh Thomas Aquinas định nghĩa “đức tin” là một hoạt động tri thức, được thúc đẩy bởi ý chí, dưới tác động của ân điển, tuyên nhận sự thật thánh thiêng bởi thẩm quyền của Thiên Chúa.

phailamgi_Tủ sách J.H. Newman Về đức tin_cv2.jpg


Từ đó, những cách nói như ai đó thấy đức tin “chao đảo”, trước những ngổn ngang của giáo hội hay trước những thất vọng đối với các bậc chủ chăn, như thường được mô tả trong những bài viết, kể cả trên diễn đàn này chẳng hạn, là những cách nói không có nghĩa, trừ khi người đó đã hiểu lầm “đức tin” là gì. Hoặc là bạn trung tín với giao ước hoặc bạn không, và không có một lý do nào của thực tại cuộc sống có khả năng khiến một người từ trung tín chuyển sang bất tín (đây cũng là một chữ của Tân Ước) trong giao ước với Thiên Chúa.

Tiếng Việt có cách nói rất hay, “mất đức tin”. Đức tin, hay sự trung tín, là món quà tặng của Thiên Chúa. Là quà tặng nên đương nhiên có thể mất. Thiên Chúa không lấy lại món quà ân điển ngài đã tặng mà chỉ là từ trong những bung xung của đời thường bạn đã để quên cho bụi phủ lên đâu đó. Để mất món quà tặng là lỗi của bạn. Bạn không thể đổ lỗi cho ai khác. Không phải lỗi của các bậc chủ chăn – dù họ rất cố gắng nhưng chưa đáp ứng được lòng mong đợi của bạn; không phải lỗi của giáo hội – dù giáo hội đang vật lộn với những thách đố; không phải lỗi của bất cứ ai mà chỉ là lỗi của bạn đã bỏ quên món quà. Không có gì nhiều để bàn cãi giữa sự biết ơn của những người được tặng quà và sự cao ngạo của những người không đủ khiêm tốn để nhận ra món quà được tặng; giữa những người quỳ xuống đủ thấp để nhìn thấy Thiên Chúa và những người nhón chân lên để không nhìn thấy Thiên Chúa. Nhưng thật đáng tiếc cho những ai để quên món quà; và thật đáng trách khi người đó quay sang đổ lỗi cho người khác.

Có điều này, và là mượn một ý mà giám mục Robert Barron thường nhắc nhở: cách để biết xem ở bất cứ thời điểm nào đó bạn có để quên món quà đức tin đâu đó hay không là xem mình có thường xuyên cầu nguyện hay không. Nếu bạn thấy mình không thường xuyên cầu nguyện thì điều đó có nghĩa là món quà đức tin của bạn đang nằm phủ bụi ở đâu đó. Xem ra, cầu nguyện, mà không phải trông đợi ai đó khác, kể cả các bậc chủ chăn hay giáo hội, là cách chăm lo món quà đức tin được tặng của mình. Nhưng để cầu nguyện được, bạn cũng cần hai đức hạnh song hành kia, tình yêu và hy vọng.

phailamgi_Tủ sách J.H. Newman Về đức tin_1.jpg

Đức tin và tiếng gọi của Thiên Chúa

Riêng tôi, trong những chuyện “đức tin” của kinh sách, câu chuyện ở chương 12 của sách Khởi thủy (hay Sáng thế ký) là một trong những câu chuyện thường làm tôi suy tư, và tôi cho rằng nó là một trong những tiền đề quan trọng của “đức tin” Ki-tô giáo.

Ngay ở câu 1 của chương này:

“Bấy giờ Chúa nói với Abram, hãy từ bỏ đất đai của ông, dòng tộc của ông, ngôi nhà của cha ông để đến một vùng đất mà tôi sẽ chỉ cho ông.”

ַיֹּאמֶר יְהוָה אֶל־אַבְרָם לֶךְ־לְךָ מֵאַרְצְךָ וּמִמּֽוֹלַדְתְּךָ וּמִבֵּית אָבִיךָ אֶל־הָאָרֶץ אֲשֶׁר אַרְאֶֽךָּ׃

Sách Khởi thủy kể tiếp: Thế là Abram cụ bị đồ đạc, bỏ xứ Haran, thuộc vùng Mesopotamia màu mỡ, ra đi, như Chúa đã nói với ông. Có đứa cháu tên Lot đi cùng. Họ đi về xứ hoang mạc Canaan. Lúc đó Abram đã 75 tuổi. (Nhưng ông sống đến 175 tuổi, nghĩa là chỉ tương đương với tuổi 34 với một người sống đến 80.) Những năm tháng kế tiếp là những năm tháng gian khó của gia đình ông. Ông dẫn gia quyến lang thang từ nơi này sang nơi khác, đến tận Ai Cập khi đang có hạn hán ở Canaan.

Trong lịch sử của nhân loại có bao nhiêu người rời bỏ quê hương, dòng tộc, rồi dìu dắt gia quyến của mình đến một vùng đất mới? Nhiều. Nhiều vô số kể. Rời bỏ quê hương, dòng tộc, rời bỏ ngôi nhà của cha mẹ để ra đi là câu chuyện muôn thuở của nhân loại. Tất cả những người di dân đều từng dìu dắt nhau ra đi như thế, cũng chịu những gian truân như thế. Cái hình ảnh Abram làm một bàn thờ để thờ phượng Chúa ngay khi đặt chân đến vùng đất mới gợi lại hình ảnh người di cư vào Nam đem theo hương án, bài vị của tổ tiên mình đến vùng đất mới. Câu kinh này thường được dẫn như một mẫu mực về đức vâng lời ở người Ki-tô giáo. Đúng là như thế. Chúa gọi và Abram lên đường. Nhưng sự lựa chọn này của Abram (so với lựa chọn giết con mình về sau) không quá khó. Nếu biết chắc tiếng gọi ra đi đó đến từ Thiên Chúa thì có lẽ không mấy ai ngần ngại. Vấn đề là: làm sao để biết tiếng gọi nào đó đến từ Thiên Chúa và tiếng gọi nào đó thì không? Kinh sách không nói cho chúng ta biết điều đó. Nhưng có điều này: Abram không thể trở thành tổ phụ của ba niềm tin tôn giáo lớn của nhân loại nếu ngày đó người đàn ông 34 tuổi, đã thành gia thất, này vẫn cứ luẩn quẩn trong ngôi nhà của cha, bên cạnh bà con dòng tộc, sáng tối dẫn đàn cừu ra vào trên mảnh đất của mình.

“Đức tin”, hay sự trung tín, món quà tặng của Thiên Chúa, do đó, ngay từ đầu là một lời mời gọi “lên đường”.​

Ảnh trong bài: Truyền thông Thái Hà
 
  • Love
Like: .
Thành viên
Tham gia
17/12/23
Bài viết
21
Cá nhân mình thích bài viết này. Cảm ơn tác giả.
 

Tủ sách J.H. Newman: Giáo dục khai phóng Công giáo – John Henry Newman và câu hỏi về mục đích của giáo dục

Những năm gần đây, khái niệm “giáo dục khai phóng” xuất hiện ngày càng nhiều trong các cuộc thảo luận về giáo dục tại Việt Nam. Người ta ca ngợi nó như một con đường dẫn tới sáng tạo, tư duy phản biện và năng lực thích ứng trong một thế giới biến động. Đồng thời, người ta cũng phê phán nó như một sản phẩm du nhập từ phương Tây, một mô hình xa lạ với truyền thống văn hóa Việt Nam, thậm chí là một phương tiện truyền tải những giá trị chính trị và xã hội không phù...

Lễ tuyên phong Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp | 8:00 ngày 02/7/2026

0 lượt xem

Bài viết chờ bạn bình luận

Bên trên