- Chủ đề Author
- #1
Cuối năm 1953, trong bối cảnh chiến tranh Đông Dương chuẩn bị kết thúc, cuộc cải cách ruộng đất do chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phát động tại các vùng do Việt Minh chiếm đóng đã bắt đầu gây ra những tổn thương về phẩm giá, từ ngày 23 – 30/11, Đức Khâm sứ J. Dooley đã triệu tập hội nghị các giám mục Đông Dương tại Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà, Hà Nội.
Đây là kỳ họp cuối cùng trước khi đất nước bị chia đôi. Kết thúc kỳ họp, các giám mục cũng đã ban hành một Thư chung gửi các tín hữu Chúa Kitô tại Việt Nam, trong đó xác định rõ, bản chất, vai trò và sứ mạng của Hội thánh tại Việt Nam và một số nguyên tắc áp dụng dành cho các giám mục, linh mục và giáo dân trong lãnh vực trần thế. (x. Trần Anh Dũng chủ biên, Hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam 1960 – 1995, Thư chung ngày 5/10/1952, Paris 1996, 116 – 124)
Các Đức Giám mục họp tại Tu viện DCCT Thái Hà từ ngày 23/11 - 30/11/1953
Nguyên tắc chung
Trước hết, thư chung khẳng định, Giáo hội không thuộc trần thế, nhưng ở giữa trần thế. Vì thế, Giáo hội có nhiệm vụ "phối hợp với thời đại mình sống và với khu vực mình ở" (Ibid). Khi tham gia vào đời sống xã hội, Giáo hội không đưa ra những giải pháp cho các vấn đề cụ thể, nhưng "ở đâu tâm hồn một dân tộc đang được rèn đúc giáo hóa, thì ở đấy, Hội thánh có mặt" (Ibid).
Điều quan trọng, theo các giám mục, khi can thiệp vào trong trật tự trần thế, mọi người Công giáo Việt Nam cần ý thức, Hội thánh tại Việt Nam chỉ là một thành phần của Hội thánh toàn cầu và có chung một sứ mạng là "đem loài người trở về với Chúa".
Vì thế, trong tư cách là Kitô hữu, họ "thuộc về Hội thánh hoàn vũ và phải tùy thuộc vào hàng giáo phẩm và dùng những phương tiện Hội thánh cung cấp cho, để đạt tới cùng đích của mình". Trong vai trò công dân, họ phải "chung lưng góp sức để mưu ích trần thế, phải vâng phục các nhà cầm quyền hợp pháp và dùng mọi phương tiện sẵn có để chu toàn nghĩa vụ" (Ibid). Như thế, "một người công giáo làm tròn bổn phận người công giáo cũng là một người công dân đây đủ".
Điều quan trọng, theo các giám mục, khi can thiệp vào trong trật tự trần thế, mọi người Công giáo Việt Nam cần ý thức, Hội thánh tại Việt Nam chỉ là một thành phần của Hội thánh toàn cầu và có chung một sứ mạng là "đem loài người trở về với Chúa".
Vì thế, trong tư cách là Kitô hữu, họ "thuộc về Hội thánh hoàn vũ và phải tùy thuộc vào hàng giáo phẩm và dùng những phương tiện Hội thánh cung cấp cho, để đạt tới cùng đích của mình". Trong vai trò công dân, họ phải "chung lưng góp sức để mưu ích trần thế, phải vâng phục các nhà cầm quyền hợp pháp và dùng mọi phương tiện sẵn có để chu toàn nghĩa vụ" (Ibid). Như thế, "một người công giáo làm tròn bổn phận người công giáo cũng là một người công dân đây đủ".
Lm. Nguyễn Văn Riễn, giáo phận Phú Cường, đại biểu Quốc hội khóa XVI
Nguyên tắc áp dụng
Sau khi đưa ra những nguyên tắc chung như trên về tương quan của Giáo hội với chính trị, các giám mục dành toàn bộ nội dung còn lại của thư chung trình bày những nguyên tắc áp dụng "giúp người giáo hữu thoát khỏi tình trạng rối ren hiện thời hoặc để tránh những trở ngại trong tương lai" (Ibid).
Về phía hàng giáo phẩm, chỉ có hàng giáo phẩm Việt Nam mới có đủ thẩm quyền đại diện cho Hội thánh Việt Nam. Các ngài tuyệt đối không được tham gia bất kỳ đảng phái chính trị nào và cũng không phản đối chính thể nào nếu chính thể đó biết công nhận quyền lợi bất di bất dịch của Hội thánh.
Về phía các linh mục – phần này không được đọc trong các nhà thờ, vì các ngài đã được biệt hiến cho Thiên Chúa, nên "khi hưởng dụng những quyền lợi công dân hay thực hành phận sự công dân, các ngài không được nhận bất cứ một trách vụ nào không phù hợp với phận vụ linh mục của các ngài." (Ibid) Các ngài cũng không được gia nhập một đảng phái chính trị nào. Trái lại phải lo giữ cho uy thế chức vụ của mình được toàn vẹn giữa mọi xung đột đảng phái. Các ngài phải lo tránh cái hại này là làm cho những người đối lập chính kiến, vì ác cảm với mình mà bỏ đạo. Cuối cùng, trong tình hình hiện tại, các giám mục đồng lòng quyết định 'không cho phép các linh mục dự vào Quốc hội và các Hội đồng Chính trị địa phương" (Ibid).
Về phần giáo dân, vì ở giữa trần thế và là công dân trong xã hội, nên họ được tự do nhập vào các đoàn thể hay đảng phái chính trị, miễn cương lĩnh hay chương trình hành động của các đảng phái đó không đi ngược với Tin mừng. Họ cũng được quyền tự do thành lập các hội đoàn, các tổ chức xã hội dân sự… miễn là phải luôn tuân thủ các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội Công giáo. Khi tham gia các hội đoàn, tổ chức hay thành lập các tổ chức, họ thành lập với tư cách cá nhân, chứ không thành lập nhân danh Hội thánh. Cuối cùng, khi gặp sự xung đột giữa hai phận sự công giáo và công dân, họ phải chọn lựa chu toàn bổn phận Công giáo trước đã. Trong trường hợp quyền lợi chính đáng của Hội thánh bị vi phạm mà hàng giáo phẩm lên tiếng chính thức phản kháng bảo vệ, thì "người Công giáo phải tận tâm phụ lực và nếu cần, phải tạm gác bỏ những chính kiến bất đồng để phụng sự Hội thánh." (Ibid)
Về phía hàng giáo phẩm, chỉ có hàng giáo phẩm Việt Nam mới có đủ thẩm quyền đại diện cho Hội thánh Việt Nam. Các ngài tuyệt đối không được tham gia bất kỳ đảng phái chính trị nào và cũng không phản đối chính thể nào nếu chính thể đó biết công nhận quyền lợi bất di bất dịch của Hội thánh.
Về phía các linh mục – phần này không được đọc trong các nhà thờ, vì các ngài đã được biệt hiến cho Thiên Chúa, nên "khi hưởng dụng những quyền lợi công dân hay thực hành phận sự công dân, các ngài không được nhận bất cứ một trách vụ nào không phù hợp với phận vụ linh mục của các ngài." (Ibid) Các ngài cũng không được gia nhập một đảng phái chính trị nào. Trái lại phải lo giữ cho uy thế chức vụ của mình được toàn vẹn giữa mọi xung đột đảng phái. Các ngài phải lo tránh cái hại này là làm cho những người đối lập chính kiến, vì ác cảm với mình mà bỏ đạo. Cuối cùng, trong tình hình hiện tại, các giám mục đồng lòng quyết định 'không cho phép các linh mục dự vào Quốc hội và các Hội đồng Chính trị địa phương" (Ibid).
Về phần giáo dân, vì ở giữa trần thế và là công dân trong xã hội, nên họ được tự do nhập vào các đoàn thể hay đảng phái chính trị, miễn cương lĩnh hay chương trình hành động của các đảng phái đó không đi ngược với Tin mừng. Họ cũng được quyền tự do thành lập các hội đoàn, các tổ chức xã hội dân sự… miễn là phải luôn tuân thủ các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội Công giáo. Khi tham gia các hội đoàn, tổ chức hay thành lập các tổ chức, họ thành lập với tư cách cá nhân, chứ không thành lập nhân danh Hội thánh. Cuối cùng, khi gặp sự xung đột giữa hai phận sự công giáo và công dân, họ phải chọn lựa chu toàn bổn phận Công giáo trước đã. Trong trường hợp quyền lợi chính đáng của Hội thánh bị vi phạm mà hàng giáo phẩm lên tiếng chính thức phản kháng bảo vệ, thì "người Công giáo phải tận tâm phụ lực và nếu cần, phải tạm gác bỏ những chính kiến bất đồng để phụng sự Hội thánh." (Ibid)
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Linh mục đại biểu Quốc hội Phạm Bá Trực điều trị bệnh tại Bệnh xá 303 ATK năm 1954. Ảnh: Đại Biểu Nhân dân
Và, để kết…
Vào thời điểm thư chung được công bố, qua sự cho phép của Đức cha Francois Chaize (Thịnh), giám mục Tông tòa Hà Nội, linh mục Phêrô Phạm Bá Trực đang là phó trưởng ban Thường trực Quốc hội khóa I. Tuy nhiên, chưa đầy một năm sau khi thư chung được công bố và được đọc tại các nhà thờ, ngày 5/10/1954, ngài đột ngột qua đời tại Đại Từ, Thái Nguyên.
Kể từ đó cho đến khi đất nước mở cửa, không có bất cứ linh mục nào tham gia Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nữa. Mãi cho tới năm 1987, thực hiện chính sách mở cửa và để cho có mặt của mọi thành phần xã hội trong đó có tôn giáo, Quốc hội Việt Nam khóa 8 mới kết nạp linh mục Phan Khắc Từ làm đại biểu Quốc hội. Ngài sẽ còn tham gia đại biểu trong các khóa IX, X. Từ khóa X có thêm linh mục Nguyễn Đức Hiệp, giáo phận Bùi Chu. Kể từ năm 1987 đến nay, có ít nhất 5 linh mục kế tiếp nhau làm đại biểu Quốc hội.
Điều đáng nói, cho tới nay, dường như chưa có bất cứ văn thư chính thức nào của Hội đồng Giám mục Việt Nam phủ quyết thư chung tháng 11/1953 của các Giám mục Việt Nam. Vì thế, Thư chung vẫn còn nguyên giá trị.
Kể từ đó cho đến khi đất nước mở cửa, không có bất cứ linh mục nào tham gia Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nữa. Mãi cho tới năm 1987, thực hiện chính sách mở cửa và để cho có mặt của mọi thành phần xã hội trong đó có tôn giáo, Quốc hội Việt Nam khóa 8 mới kết nạp linh mục Phan Khắc Từ làm đại biểu Quốc hội. Ngài sẽ còn tham gia đại biểu trong các khóa IX, X. Từ khóa X có thêm linh mục Nguyễn Đức Hiệp, giáo phận Bùi Chu. Kể từ năm 1987 đến nay, có ít nhất 5 linh mục kế tiếp nhau làm đại biểu Quốc hội.
Điều đáng nói, cho tới nay, dường như chưa có bất cứ văn thư chính thức nào của Hội đồng Giám mục Việt Nam phủ quyết thư chung tháng 11/1953 của các Giám mục Việt Nam. Vì thế, Thư chung vẫn còn nguyên giá trị.
