Mãi đến đầu những năm ’90, các chủng viện Công giáo ở Mỹ mới bắt đầu dạy về các giáo phụ tiên khởi của giáo hội một cách rộng rãi. Điều này là kết quả của những khuyến dụ từ sau Công đồng Vatican II, như chính lời Đức Thánh Cha Paul VI, “việc nghiên cứu học hỏi về các giáo phụ là tuyệt đối cần thiết cho những ai quan tâm đến sự canh tân về thần học, phụng vụ, và đức tin.”
Khuyến dụ này của giáo hội, được chuẩn bị kỹ lưỡng từ Công đồng Vatican I một thế kỷ trước đó, có lý do của nó: giáo hội đang đứng trước những thử thách cam go nhất trong lịch sử, kể từ giai đoạn sống còn của những thế kỷ đầu tiên, khi giáo hội non trẻ phải đương đầu với sự tấn công từ nhiều phía. Cũng như ở thời hiện đại, giáo hội của các giáo phụ phải đương đầu với sự tấn công của thần học Do Thái, của triết học Hy Lạp, của các khuynh hướng tri giáo (gnosticism) có nguy cơ làm tan rã giáo hội từ bên trong. Trí tuệ và bản lĩnh đã giúp các giáo phụ lèo lái con thuyền giáo hội vượt qua những bão táp này là bài học quý giá cho người Cứu thế đương đại. Một trong những gương mặt trí tuệ và bản lĩnh xuất hiện sớm nhất là Flavius Justinus, người mà đời sau biết đến là Thánh Justin Tử đạo.
Flavius Justinus đã lang thang từ môn phái này đến môn phái khác tầm sư học đạo. Nơi dùng chân cuối cùng của ông, trước khi trở thành một tín hữu Ki-tô giáo, là triết học Platon. Justinus tìm thấy ở Platon điều mà về sau ông viện dẫn để diễn giải về sự hiện hữu của Trời để làm bằng chứng rằng người Cứu thế không phải là vô thần theo cách họ bị cáo buộc và bức hại (như Socrates từng bị cáo buộc là vô thần và bức tử.) Sự vận dụng triết học Hy Lạp, đặc biệt là triết học Platon, để diễn giải tín ngưỡng Ki-tô giáo, một truyền thống bắt đầu từ Philo, một người Do Thái ở thành Alexandria làm với tín ngưỡng Do Thái, được tiếp nối, càng về sau càng mở rộng hơn, bởi các giáo phụ Hy Lạp, từ Clement, Origen, Anathasios, John Chrysostom, Basil xứ Caesarea và em ông Grogery xứ Nyssa và bạn của ông Grogery xứ Nazianzus, rồi các giáo phụ Latin Ambros, Jerome, và đạt đến đỉnh cao ở Augustine. Trước đó, nhưng với chiều hướng ngược lại, Irenaeus chỉ ra những nhầm lẫn của các phái tri giáo trong việc tích hợp triết học Hy Lạp một cách thái quá để trở thành dị-đoan. Sự thái quá trở thành dị-đoan này lập đi lập lại trong các cuộc vật lộn về Ki-tô học và nhân học để đi đến tín lý ở các công đồng, đặc biệt ở bốn công đồng đầu tiên từ Nikaia đến Khalkedon, giữa Anathasios và Areios, Cyril thành Alexandria và Nestonios, Augustine và Pelagios, vân vân.
Tri thức Ki-tô giáo ở giai đoạn này mở đầu một truyền thống triết-thần học huyết mạch cho 2000 năm kế tiếp, với sự tích hợp đầy sáng tạo, mà không phải là không có những sai lạc, giữa lý tính và đức tin. Quan tâm cốt lõi của các giáo phụ vẫn là thần học của đức tin, mà với nó triết học của lý tính được đẩy đến giới hạn cuối. Phía bên kia là siêu lý tính, nghĩa là điểm kết thúc của hành trình lý tính và chỉ tin mà không thể hiểu thêm được nữa. Vận dụng triết học để lý giải đức tin; phép biện chứng “trung dung” để đi đến các tín lý và loại bỏ những ý tưởng dị-đoan; và các phương pháp thuyên diễn kinh sách là những bài học lớn từ các giáo phụ mà Tủ sách J.H. Newman muốn giới thiệu.
Về “đạo trung dung” của các giáo phụ
Tôi đã có dịp nói đến “trung dung” của Nho giáo (trong loạt bài Đông học độc bản). Tôi đã viết đâu đó về “trung dung” trong Aristotle và Thomas Aquinas. Ở họ, “trung dung” là biện chứng đi đến chân lý. Nhưng đó là vẫn là cách hành đạo trung dung trong tư duy của những cá nhân. Chặng đường đầu của Ki-tô giáo, và phần giáo phụ của tủ sách này, đặt trọng tâm vào bốn giáo phụ Hy Lạp và bốn giáo phụ Latin, dừng lại ở Công đồng Khalkedon, năm 451, thời điểm mà những tín lý nền tảng của Cứu thế được thiết lập sau mấy thể kỷ vật lộn, gợi ý rằng “trung dung” còn là sự sàng lọc tập thể mang tính biện chứng và cũng là để đạt đến tín lý, hay chân lý của đức tin.
Bằng cách nào để những người cầm cân nảy mực cho đời sống đức tin ở những thế kỷ đầu đó biết để chọn điều này mà không chọn điều kia? Giữa Thiên Chúa và con người ở trong một Giê-su, giữa ý chí tự do và ân điển, giữa mẹ của Thiên Chúa và mẹ của đấng Cứu thế, giữa một bản tính hay hai bản tính, một ý chí hay hai ý chí ở Chúa Giê-su, và trong từng trường hợp các ý tưởng bị loại ra thường là hợp lý hơn. Giáo hội đã chọn cái trung dung, ngay cả khi những lựa chọn đó không thể lý giải một cách rành mạch được, mà không chọn cái có thể lý giải một cách rành mạch. [Tôi ngờ rằng, một người lý tính như tôi, luôn muốn lý giải rành mạch mọi chuyện, sống ở các thời đại đó thì cũng sẽ đi theo các giáo phái dị-đoan và trở nên lạc giáo.] Areios, Pelagios, Nestonios là những bộ óc uyên bác trong thời đại của họ. Nhưng lý tính đã kéo họ đi quá đà, và trở thành dị-đoan. Thái cực bên kia của lý tính là gì? Là siêu lý tính. Xem ra, học lịch sử tư duy giáo phụ là học cái “đạo trung dung”, hay con đường trung dung, hay biện chứng trung dung, giữa lý tính và siêu lý tính, đó. Hai trường phái thuyên diễn kinh sách Alexandria, thiên về phương pháp ẩn dụ, và Antioch, thiên về phê phán lịch sử, cũng giúp tạo nên một loại “biện chứng trung dung”. Lòng trung tín, hay đức tin, Ki-tô giáo đặt ở một người cùng lúc vừa là Trời vừa là con người. Đó chính là nền tảng của trung dung, của tư duy Ki-tô giáo.
Riêng tôi, còn một vấn đề nữa: học thần học và lịch sử giáo phụ là để thấy những bung xung đương đại về tư duy tín ngưỡng, kết quả xâm thực của văn hóa thế tục, không mới; chúng là những bóng ma của tư duy xuất hiện xuyên suốt các thế kỷ, dưới hình thức này hay hình thức khác, dù đã được giải quyết từ thời các giáo phụ.
Việc tuyển dịch các trước tác của các giáo phụ là một công-nghiệp lớn khác mà cá nhân tôi, ở thời điểm này, không dự liệu được. Tuy nhiên tôi cũng sẽ liệt kê các trước tác đó trong danh mục của tủ sách như một tham khảo để có ai đến sau làm tiếp. Tôi quý mến và kính trọng hết thảy các vị giáo phụ nhưng cũng không giấu giếm cảm mến đặc biệt với hai vị giáo phụ, một Hy Lạp, một Latin: John Chrysostom và Augustine.
Bằng cách nào để những người cầm cân nảy mực cho đời sống đức tin ở những thế kỷ đầu đó biết để chọn điều này mà không chọn điều kia? Giữa Thiên Chúa và con người ở trong một Giê-su, giữa ý chí tự do và ân điển, giữa mẹ của Thiên Chúa và mẹ của đấng Cứu thế, giữa một bản tính hay hai bản tính, một ý chí hay hai ý chí ở Chúa Giê-su, và trong từng trường hợp các ý tưởng bị loại ra thường là hợp lý hơn. Giáo hội đã chọn cái trung dung, ngay cả khi những lựa chọn đó không thể lý giải một cách rành mạch được, mà không chọn cái có thể lý giải một cách rành mạch. [Tôi ngờ rằng, một người lý tính như tôi, luôn muốn lý giải rành mạch mọi chuyện, sống ở các thời đại đó thì cũng sẽ đi theo các giáo phái dị-đoan và trở nên lạc giáo.] Areios, Pelagios, Nestonios là những bộ óc uyên bác trong thời đại của họ. Nhưng lý tính đã kéo họ đi quá đà, và trở thành dị-đoan. Thái cực bên kia của lý tính là gì? Là siêu lý tính. Xem ra, học lịch sử tư duy giáo phụ là học cái “đạo trung dung”, hay con đường trung dung, hay biện chứng trung dung, giữa lý tính và siêu lý tính, đó. Hai trường phái thuyên diễn kinh sách Alexandria, thiên về phương pháp ẩn dụ, và Antioch, thiên về phê phán lịch sử, cũng giúp tạo nên một loại “biện chứng trung dung”. Lòng trung tín, hay đức tin, Ki-tô giáo đặt ở một người cùng lúc vừa là Trời vừa là con người. Đó chính là nền tảng của trung dung, của tư duy Ki-tô giáo.
Riêng tôi, còn một vấn đề nữa: học thần học và lịch sử giáo phụ là để thấy những bung xung đương đại về tư duy tín ngưỡng, kết quả xâm thực của văn hóa thế tục, không mới; chúng là những bóng ma của tư duy xuất hiện xuyên suốt các thế kỷ, dưới hình thức này hay hình thức khác, dù đã được giải quyết từ thời các giáo phụ.
Việc tuyển dịch các trước tác của các giáo phụ là một công-nghiệp lớn khác mà cá nhân tôi, ở thời điểm này, không dự liệu được. Tuy nhiên tôi cũng sẽ liệt kê các trước tác đó trong danh mục của tủ sách như một tham khảo để có ai đến sau làm tiếp. Tôi quý mến và kính trọng hết thảy các vị giáo phụ nhưng cũng không giấu giếm cảm mến đặc biệt với hai vị giáo phụ, một Hy Lạp, một Latin: John Chrysostom và Augustine.
Về John Chrysostom
Trong số các giáo phụ của Tủ sách J.H. Newman, tôi có cảm giác về một sự gần gũi nhất định với John Chrysostom. Có lẽ từ tài hùng biện của ông; có lẽ từ sự khẳng khái của ông; cũng có lẽ ông là người thuộc trường phái thuyên diễn kinh sách Antioch; hay ngay cả việc ông viết những lá thư rất dài và rất sâu sắc để an ủi và khuyên bảo người thiếu phụ Olympias; hay ngay cả cuộc đời cô độc và tai ương của ông.
Việc chọn lọc ra từ cái khối trước tác khổng lồ của John Chrysostom để làm một "độc bản" vài trăm trang, cũng như với các tác giả lớn khác như Thomas Aquinas, Origen, là một chuyện sẽ rất nhiêu khê. Lướt qua một số bài giảng của ông, tôi thấy có đoạn này thú vị. Dịch loại văn phong hùng biện, như của Paulos chẳng hạn, là điều tạo cảm hứng lớn đối với tôi. Tôi dùng chữ "khiêm hư" (謙虛) theo cái nghĩa là không làm dáng:
"Bởi sự khiêm hư của tâm thức là nền tảng của tình yêu đối với trí tuệ, gắn liền với chúng ta. Ngay cả khi bạn kiến tạo một cấu trúc thượng tầng gồm vô số thứ; ngay cả từ thiện, ngay cả cầu nguyện, ngay cả ăn kiêng, ngay cả mọi đức hạnh; trừ khi nó trước hết được đặt làm nền tảng, tất cả sẽ được xây dựng trên đó một cách vô nghĩa và vô ích; và nó sẽ sụp đổ dễ dàng, như ngôi nhà xây trên cát. Bởi không ai, không việc thiện lành nào của chúng mà không cần đến điều này; không ai tách khỏi điều này mà có thể đứng vững. Và ngay cả bạn nói đến tiết độ, ngay cả sự trinh tiết, ngay cả sự xem thường tiền bạc, ngay cả bất cứ thứ gì, trong sự thiếu vắng khiêm hư của tâm thức, tất cả đều ô uế và đáng nguyền rủa và ghê tởm. Bởi thế hãy đem nàng theo với chúng ta bất cứ nơi đâu, trong lời nói, trong hành vi, trong ý tưởng, và như thế chúng ta sẽ xây đắp những ân điển này."
Việc chọn lọc ra từ cái khối trước tác khổng lồ của John Chrysostom để làm một "độc bản" vài trăm trang, cũng như với các tác giả lớn khác như Thomas Aquinas, Origen, là một chuyện sẽ rất nhiêu khê. Lướt qua một số bài giảng của ông, tôi thấy có đoạn này thú vị. Dịch loại văn phong hùng biện, như của Paulos chẳng hạn, là điều tạo cảm hứng lớn đối với tôi. Tôi dùng chữ "khiêm hư" (謙虛) theo cái nghĩa là không làm dáng:
"Bởi sự khiêm hư của tâm thức là nền tảng của tình yêu đối với trí tuệ, gắn liền với chúng ta. Ngay cả khi bạn kiến tạo một cấu trúc thượng tầng gồm vô số thứ; ngay cả từ thiện, ngay cả cầu nguyện, ngay cả ăn kiêng, ngay cả mọi đức hạnh; trừ khi nó trước hết được đặt làm nền tảng, tất cả sẽ được xây dựng trên đó một cách vô nghĩa và vô ích; và nó sẽ sụp đổ dễ dàng, như ngôi nhà xây trên cát. Bởi không ai, không việc thiện lành nào của chúng mà không cần đến điều này; không ai tách khỏi điều này mà có thể đứng vững. Và ngay cả bạn nói đến tiết độ, ngay cả sự trinh tiết, ngay cả sự xem thường tiền bạc, ngay cả bất cứ thứ gì, trong sự thiếu vắng khiêm hư của tâm thức, tất cả đều ô uế và đáng nguyền rủa và ghê tởm. Bởi thế hãy đem nàng theo với chúng ta bất cứ nơi đâu, trong lời nói, trong hành vi, trong ý tưởng, và như thế chúng ta sẽ xây đắp những ân điển này."
Về Augustine và “Tín ngưỡng đích thực”
Như một khúc nhạc hay một bức họa đẹp vậy, có lúc bạn đi ngang một câu viết, hay nói, làm giật cả mình:
"Tại sao chúng ta vẫn há hốc miệng vì cặn bã của cuộc nhậu ngày hôm qua và xem xét kỹ lưỡng nội tạng của những con thú chết để tìm những lời tiên tri thiêng liêng, trong khi, nếu có lúc phải tranh luận, chúng ta còn phải đau khi để cái tên Plato nổ lốp đốp trong miệng mình hơn là lòng chúng ta tràn đầy sự thật?"
Là câu Augustine viết trong cuốn Tín ngưỡng đích thực. Là đức tin tuyên xưng sự thật, một cách mặc nhiên, ngay từ đầu, với Tertullian and Justin Tử đạo, vật lộn với triết học đương thời đến với tư duy Cứu thế trước cả tín lý và thần học. Vật lộn với triết học, từ đó, có thể xem là một phần của vật lộn với Trời; vì cái ý tưởng ngạo mạn cho rằng chỉ cần có triết học, hay lý tính thuần túy, thì cũng có thể tiếp cận chân lý, mà không cần lễ nghi, là một ý tưởng xuyên suốt lịch sử tư duy. Đại diện của ý tưởng này trong thời đại của Augustine là phái Manichean mà Augustine một thời gian dài là môn đệ trung tín. (Đại diện của ý tưởng này trong thời đại này là những ai và ai là môn đệ trung tín của họ?)
Khổng tử đúng khi cho rằng lễ làm nên con người (使人以有禮,知自別於禽獸). Và nếu con người đích thực là con người được làm nên theo hình ảnh của Trời thì Augustine đúng khi cho rằng triết học mà không có lễ thì cũng không vươn được đến sự thật, nghĩa là đến với Trời. Tín ngưỡng đích thực đương nhiên có mặt trong Tủ sách J.H. Newman. Tôi mong là đã có một bản dịch tiếng Việt đâu đó rồi.
Bài này kết thúc với một đoạn khác, cũng trong Tín ngưỡng đích thực:
"Đôi khi, sự quan phòng thánh thiêng cũng cho phép ngay cả những người đức hạnh bị trục xuất ra khỏi cộng đoàn Ki-tô giáo thông qua những cuộc nổi loạn dữ dội của những người phàm tục. Họ đã kiên nhẫn chịu đựng biết bao lời sỉ nhục hay tổn thương vì sự bình yên của Giáo hội, mà không hề gây ra bất kỳ sự khác thường nào, dù là ly khai hay dị giáo, điều đó sẽ dạy cho mọi người biết phải phụng sự Thiên Chúa với tấm lòng chân thành và bác ái như thế nào."
Augustine đã viết như thế từ thế kỷ 5.
"Tại sao chúng ta vẫn há hốc miệng vì cặn bã của cuộc nhậu ngày hôm qua và xem xét kỹ lưỡng nội tạng của những con thú chết để tìm những lời tiên tri thiêng liêng, trong khi, nếu có lúc phải tranh luận, chúng ta còn phải đau khi để cái tên Plato nổ lốp đốp trong miệng mình hơn là lòng chúng ta tràn đầy sự thật?"
Là câu Augustine viết trong cuốn Tín ngưỡng đích thực. Là đức tin tuyên xưng sự thật, một cách mặc nhiên, ngay từ đầu, với Tertullian and Justin Tử đạo, vật lộn với triết học đương thời đến với tư duy Cứu thế trước cả tín lý và thần học. Vật lộn với triết học, từ đó, có thể xem là một phần của vật lộn với Trời; vì cái ý tưởng ngạo mạn cho rằng chỉ cần có triết học, hay lý tính thuần túy, thì cũng có thể tiếp cận chân lý, mà không cần lễ nghi, là một ý tưởng xuyên suốt lịch sử tư duy. Đại diện của ý tưởng này trong thời đại của Augustine là phái Manichean mà Augustine một thời gian dài là môn đệ trung tín. (Đại diện của ý tưởng này trong thời đại này là những ai và ai là môn đệ trung tín của họ?)
Khổng tử đúng khi cho rằng lễ làm nên con người (使人以有禮,知自別於禽獸). Và nếu con người đích thực là con người được làm nên theo hình ảnh của Trời thì Augustine đúng khi cho rằng triết học mà không có lễ thì cũng không vươn được đến sự thật, nghĩa là đến với Trời. Tín ngưỡng đích thực đương nhiên có mặt trong Tủ sách J.H. Newman. Tôi mong là đã có một bản dịch tiếng Việt đâu đó rồi.
Bài này kết thúc với một đoạn khác, cũng trong Tín ngưỡng đích thực:
"Đôi khi, sự quan phòng thánh thiêng cũng cho phép ngay cả những người đức hạnh bị trục xuất ra khỏi cộng đoàn Ki-tô giáo thông qua những cuộc nổi loạn dữ dội của những người phàm tục. Họ đã kiên nhẫn chịu đựng biết bao lời sỉ nhục hay tổn thương vì sự bình yên của Giáo hội, mà không hề gây ra bất kỳ sự khác thường nào, dù là ly khai hay dị giáo, điều đó sẽ dạy cho mọi người biết phải phụng sự Thiên Chúa với tấm lòng chân thành và bác ái như thế nào."
Augustine đã viết như thế từ thế kỷ 5.
Ảnh: The Collectors
