Mỗi khi một cuộc tranh cãi thần học nổ ra trên mạng xã hội Công giáo Việt Nam, tôi thường có xu hướng đứng ngoài. Không phải vì những vấn đề được tranh luận không quan trọng, nhưng vì phần lớn các cuộc tranh luận ấy thường dừng lại ở mức độ phản ứng cảm xúc trước một câu nói hơn là cố gắng hiểu vấn đề thần học nằm phía sau câu nói đó. Cuộc tranh cãi gần đây liên quan đến phát biểu của nữ tu Hồng Quế, khi soeur dùng cụm từ “đấng giác ngộ” để nói về Chúa Giê-su, là một cuộc tranh cãi như thế.
Điều tôi quan tâm không hẳn là soeur có dùng đúng từ hay không. Điều tôi quan tâm là phản ứng của cộng đồng Công giáo mạng đối với câu nói ấy. Chính phản ứng đó hé lộ một điều rất thú vị về cách người Công giáo Việt Nam đang hiểu Đức Ki-tô. Lập luận phản đối soeur Hồng Quế phổ biến nhất có thể được tóm tắt như sau: Chúa Giê-su là Thiên Chúa. Vì thế, không thể dùng những phạm trù vốn dành cho con người để nói về Ngài. Ngài không thể được xếp cùng một loại với các hiền triết, các bậc thánh nhân, hay các nhân vật tôn giáo khác trong lịch sử nhân loại. Nhiều người còn đi xa hơn, trong việc cáo buộc soeur lạc giáo.
Lập luận này nghe có vẻ rất chính thống. Nhưng nếu nhìn từ lịch sử tín lý Ki-tô giáo, đặc biệt từ Công đồng Khalkedon năm 451, vấn đề trở nên rối rắm hơn nhiều. Thật vậy, nếu có một điều mà các giáo phụ đã dành gần năm thế kỷ đầu tiên của lịch sử Giáo hội để bảo vệ, thì đó chính là quyền được nói những điều thực sự thuộc về con người nơi Chúa Giê-su. Ngày nay, chúng ta thường nghĩ rằng cuộc tranh luận Ki-tô học trong Giáo hội tiên khởi là cuộc tranh luận về thần tính của Đức Ki-tô. Nhưng đó chỉ là một phần của câu chuyện. Vấn đề thực sự mà các thế hệ Ki-tô hữu tiên khởi phải đối diện là một nghịch lý nằm ngay trong các sách Tin mừng. Một mặt, Chúa Giê-su tha tội. Ngài nhận sự thờ lạy. Ngài tuyên bố: “Tôi và Cha là một” (Tin mừng theo Ioannes 10:30, bản dịch Tủ sách J.H. Newman.) Các tác giả Tân Ước không ngần ngại gán cho Ngài những danh hiệu vốn chỉ dành cho Thiên Chúa. Nhưng mặt khác, chính các sách Tin mừng cũng kể cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-su biết đói, biết khát, biết mệt mỏi. Ngài khóc. Ngài đau khổ. Ngài cảm thương. Ngài chết. Tin mừng theo Loukas còn có một câu đặc biệt gây khó khăn cho thần học: “Và Iesous cứ thăng tiến về trí tuệ và vóc dáng và trong ân điển với Trời và với con người” (Tin mừng theo Loukas 2:32, bản dịch Tủ sách J.H. Newman).
Nếu Ngài là Thiên Chúa, tại sao Ngài có thể “thăng tiến về trí tuệ”? Nếu Ngài là Thiên Chúa, tại sao Ngài phải học hỏi? Nếu Ngài là Thiên Chúa, tại sao Ngài có thể đau khổ? Nếu Ngài là Thiên Chúa, tại sao Ngài có thể chết?
Toàn bộ lịch sử Ki-tô học từ thế kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ năm có thể được hiểu như một nỗ lực trả lời những câu hỏi đó. Điều thú vị là hầu như tất cả các khuynh hướng dị-đoan lạc giáo Ki-tô học lớn trong thời kỳ này đều phát sinh từ những thiện ý. Người ta muốn bảo vệ một khía cạnh nào đó của mầu nhiệm Đức Ki-tô. Areios muốn bảo vệ tính duy nhất tuyệt đối của Thiên Chúa nên giảm thần tính của Đức Ki-tô. Apollinarius muốn bảo vệ sự hiệp nhất nơi Đức Ki-tô nên cho rằng Ngôi Lời (Lý/Logos) thay thế linh hồn lý trí của con người. Nestorios muốn bảo vệ tính nhân loại của Đức Ki-tô nên nhấn mạnh sự phân biệt giữa thần tính và nhân tính đến mức có vẻ như tồn tại hai chủ thể khác nhau. Eutyches thì đi theo hướng ngược lại. Ông muốn bảo vệ thần tính của Đức Ki-tô nên cho rằng sau biến cố nhập thể chỉ còn một bản tính duy nhất.
Tất cả các giải pháp ấy đều thất bại vì cùng một lý do: chúng giải quyết nghịch lý bằng cách hy sinh một trong hai cực của nghịch lý. Hoặc thần tính nuốt mất nhân tính. Hoặc nhân tính làm suy yếu thần tính. Hoặc hai bản tính bị trộn lẫn. Hoặc chúng bị tách rời.
Chính trong bối cảnh đó mà Công đồng Khalkedon năm 451 xuất hiện.
Có thể nói Khalkedon là một trong những khoảnh khắc quyết định nhất của lịch sử Ki-tô giáo. Công đồng tuyên bố rằng Đức Ki-tô là một ngôi vị duy nhất nhưng sở hữu trọn vẹn hai bản tính: bản tính Thiên Chúa và bản tính con người. Hai bản tính ấy tồn tại “không lẫn lộn, không biến đổi, không phân chia và không tách biệt”. Bốn phủ định nổi tiếng này không phải là một trò chơi ngôn ngữ. Chúng là thành quả của hơn bốn thế kỷ suy tư thần học. “Không lẫn lộn” và “không biến đổi” nhằm chống lại khuynh hướng để thần tính nuốt mất nhân tính. “Không phân chia” và “không tách biệt” nhằm chống lại khuynh hướng biến Đức Ki-tô thành hai chủ thể khác nhau. Nói cách khác, Khalkedon từ chối cả hai cực đoan. Đức Ki-tô không phải là một vị thần chỉ giả vờ làm người. Ngài cũng không phải chỉ là một con người đặc biệt được Thiên Chúa tuyển chọn. Ngài là Thiên Chúa thật và là con người thật. Cùng một lúc. Trọn vẹn. Không giảm bớt bên nào.
Điều này dẫn đến một hệ quả rất quan trọng nhưng thường ít được chú ý trong đời sống đức tin. Nếu Khalkedon đúng, thì những điều thực sự thuộc về con người có thể được nói về Chúa Giê-su. Ngài học hỏi. Ngài tiến bộ. Ngài suy tư. Ngài cầu nguyện. Ngài đau khổ. Ngài bị thử thách. Ngài vâng phục. Ngài thăng tiến về trí tuệ. Tất cả những điều ấy đều đúng. Không phải vì Ngài kém Thiên Chúa hơn. Nhưng chính vì Ngài là con người thật.
Trong nhiều thế kỷ tiếp theo, thần học Công giáo còn tiếp tục khai triển ý tưởng này xa hơn nữa. Giáo hội khẳng định rằng Đức Ki-tô có ý chí con người thực sự, có trí tuệ con người thực sự, có đời sống tâm lý con người thực sự. Nếu thiếu bất kỳ yếu tố nào trong số đó, nhân tính của Ngài sẽ không còn trọn vẹn. Nói cách khác, Giáo hội không cứu thần tính của Đức Ki-tô bằng cách làm cho nhân tính của Ngài trở nên giả tạo. Ngược lại, Giáo hội bảo vệ thần tính của Ngài bằng cách bảo vệ nhân tính của Ngài đến cùng.
Trở lại với câu hỏi ban đầu. Chúa Giê-su có thể được gọi là một “đấng giác ngộ” hay không?
Ở đây chúng ta cần phải phân biệt giữa hai cấp độ. Ở cấp độ ngôn ngữ và mục vụ, tôi hiểu vì sao nhiều người cảm thấy không thoải mái. Từ “giác ngộ” thuộc về một truyền thống tư duy khác. Nó không phải là ngôn ngữ quen thuộc của Kinh Thánh, của các giáo phụ hay của tín lý Công giáo. Nhưng ở cấp độ thần học, câu hỏi cần được đặt khác đi: Có điều gì trong sự khôn ngoan, sự hiểu biết chân lý hay sự nhận thức sâu xa về thực tại mà lại không thể được áp dụng cho nhân tính của Đức Ki-tô hay không?
Câu trả lời là không.
Nếu hiểu “giác ngộ” theo nghĩa đạt tới sự hiểu biết thâm sâu về chân lý, thì chắc chắn Đức Ki-tô vượt xa mọi hiền triết, mọi triết gia, mọi ngôn sứ và mọi nhà sáng lập tôn giáo trong lịch sử nhân loại. Vấn đề không nằm ở chỗ Chúa Giê-su có thể được mô tả bằng một phạm trù nhân loại hay không. Vấn đề nằm ở chỗ phạm trù ấy có đủ để mô tả Ngài hay không. Nói rằng Chúa Giê-su là một người khôn ngoan là đúng. Nhưng chưa đủ. Nói rằng Chúa Giê-su là một vị ngôn sứ là đúng. Nhưng chưa đủ. Nói rằng Chúa Giê-su là một đấng giác ngộ, hiểu theo nghĩa nào đó chẳng hạn, có thể đúng. Nhưng vẫn chưa đủ. Bởi vì đối với Ki-tô giáo, Ngài không chỉ là một con người đạt tới chân lý. Ngài chính là Chân Lý đã trở thành người.
Nhưng từ “chưa đủ” đến “lạc giáo” là một khoảng cách rất xa. Vì thế, điều mà cuộc tranh cãi này thực sự phơi bày không phải là một sai lầm Ki-tô học nghiêm trọng nào đó ở người phát ngôn. Nó phơi bày một điều khác đáng suy nghĩ hơn. Nhiều người Công giáo Việt Nam tuy tuyên xưng Khalkedon nhưng lại chưa hoàn toàn chấp nhận Khalkedon trong viễn tượng tín ngưỡng của mình. Trên văn bản, Đức Ki-tô có hai bản tính. Trong đời sống đạo, Ngài thường chỉ còn một. Đó là bản tính Thiên Chúa. Nhân tính của Ngài bị khuất lấp. Trong viễn tượng tín ngưỡng của nhiều người, Đức Ki-tô giống như một Thiên Chúa đi ngang qua thế giới con người hơn là một Thiên Chúa thực sự bước vào thân phận con người. Nhưng chính điều đó là điều mà Khalkedon đã cố gắng ngăn chặn.
Từ Khalkedon đến người Công giáo Việt Nam hôm nay
Nếu dừng lại ở đây, câu chuyện chỉ còn là một tranh luận thần học xảy ra cách đây hơn mười lăm thế kỷ. Nhưng điều làm cho cuộc tranh cãi hiện nay trở nên đáng quan tâm là vì nó cho phép chúng ta nhìn thấy một đặc điểm rất sâu trong đời sống Công giáo ở Việt Nam. Nói một cách đơn giản, phần lớn người Công giáo Việt Nam biết Chúa Giê-su qua lòng sùng tín nhiều hơn là qua Ki-tô học.
Điều này không hẳn là một phê phán. Lòng sùng tín có những sức mạnh riêng của nó. Chính lòng sùng tín đã giúp đức tin tồn tại qua các thời kỳ bách hại, qua chiến tranh, qua nghèo đói và qua những biến động xã hội kéo dài nhiều thế hệ. Nơi nhiều giáo xứ, người tín hữu có thể không biết Khalkedon là gì, không biết Areios hay Nestorios là ai, nhưng họ biết cầu nguyện, biết lần chuỗi, biết tham dự thánh lễ và biết sống đời sống đức tin một cách trung thành.
Nhưng lòng sùng tín có những giới hạn của nó. Một trong những giới hạn đó là nó thường có xu hướng nhấn mạnh đến thần tính của Đức Ki-tô nhiều hơn nhân tính của Ngài. Trong các bài giảng, các bài hát và các kinh nguyện quen thuộc, Chúa Giê-su thường xuất hiện như đấng toàn năng, toàn tri, toàn thiện. Hình ảnh ấy dĩ nhiên đúng. Vấn đề là hình ảnh còn lại – Chúa Giê-su như một con người thật sự – nhiều khi trở nên mờ nhạt. Người tín hữu dễ dàng chấp nhận rằng Chúa Giê-su làm phép lạ nhưng ít suy tư về việc Ngài phải học nói như mọi đứa trẻ khác. Người tín hữu dễ dàng chấp nhận rằng Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa nhưng ít suy tư về việc Ngài đã phải học nghề mộc từ người bố Giu-se. Người tín hữu dễ dàng chấp nhận rằng Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế nhưng ít suy tư về việc Ngài đã trải qua những năm tháng dài sống một cuộc đời bình thường ở làng Nazareth. Đó là lý do vì sao bất cứ ngôn ngữ nào nhấn mạnh đến nhân tính của Đức Ki-tô cũng dễ gây khó chịu. Không chỉ từ “giác ngộ”. Có lẽ những từ như “học hỏi”, “trưởng thành”, “khám phá”, “kinh nghiệm”, hay thậm chí “vật lộn” cũng có thể gây ra những phản ứng tương tự nếu người ta không đặt chúng trong khung cảnh Ki-tô học của Khalkedon. Nhưng điều đáng chú ý là các sách Tin Mừng lại không hề ngần ngại sử dụng loại ngôn ngữ đó. Các tác giả Tân Ước dường như ít sợ nhân tính của Đức Ki-tô hơn nhiều Ki-tô hữu ngày nay.
Có lẽ hiện tượng này không chỉ là một vấn đề thần học. Nó còn là một vấn đề văn hóa. Nền văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, chịu ảnh hưởng đồng thời của Khổng giáo, Phật giáo và cấu trúc xã hội truyền thống, thường dành sự kính trọng rất lớn cho những nhân vật được xem là thánh thiêng. Nhưng sự kính trọng ấy nhiều khi đi kèm với việc đặt nhân vật đó ra ngoài phạm vi trải nghiệm của con người bình thường. Một vị thánh càng được tôn kính thì càng trở nên xa cách. Một bậc hiền nhân càng được ngưỡng mộ thì càng trở nên phi thường. Một nhân vật tôn giáo càng được yêu mến thì càng khó được nhìn như một con người thực sự. Xu hướng đó vô tình ảnh hưởng cả cách người ta nhìn Đức Ki-tô. Ngài được nâng lên rất cao, nhưng đôi khi cao đến mức không còn chạm được, cao đến mức không còn giống chúng ta.
Thế nhưng toàn bộ tín lý nhập thể lại đi theo hướng ngược lại. Thiên Chúa không cứu thế giới từ khoảng cách. Ngài cứu thế giới bằng cách bước vào thế giới. Ngài không cứu nhân loại bằng cách tránh né thân phận con người. Ngài cứu nhân loại bằng cách mang lấy thân phận con người. Các giáo phụ thường nói rằng điều gì không được Đức Ki-tô mang lấy thì điều đó không được cứu chuộc. Nếu Ngài không thực sự mang lấy trí tuệ con người thì trí tuệ con người không được cứu chuộc. Nếu Ngài không thực sự mang lấy ý chí con người thì ý chí con người không được cứu chuộc. Nếu Ngài không thực sự mang lấy kinh nghiệm con người, thì kinh nghiệm con người không được cứu chuộc.
Đó chính là điều mà Khalkedon cố gắng bảo vệ. Vì thế, xét cho cùng, câu hỏi quan trọng nhất mà cuộc tranh cãi này đặt ra không phải là liệu một cụm từ nào đó có thích hợp hay không. Câu hỏi quan trọng hơn là chúng ta đang có một Ki-tô học như thế nào. Một Ki-tô học trong đó thần tính của Đức Ki-tô nuốt mất nhân tính của Ngài? Hay một Ki-tô học trong đó thần tính và nhân tính cùng được bảo vệ như truyền thống Khalkedon đã làm? Nếu cuộc tranh cãi hiện nay có một giá trị tích cực nào đó, thì có lẽ chính là ở chỗ nó buộc chúng ta phải quay trở lại với câu hỏi nền tảng ấy. Mầu nhiệm trung tâm của Ki-tô giáo là việc Thiên Chúa trở thành con người.
Nhưng có vẻ như, hơn mười lăm thế kỷ sau Khalkedon, đó vẫn là sự thật khó chấp nhận đối với một số tín hữu Công giáo Việt Nam. Thiết nghĩ, trước khi chúng ta tranh cãi xem một từ ngữ nào đó có phù hợp hay không, điều đáng làm hơn là quay trở lại với Khalkedon và tự hỏi: chúng ta có thực sự tin vào nhân tính trọn vẹn của Đức Ki-tô như các giáo phụ đã tin hay không?
Điều tôi quan tâm không hẳn là soeur có dùng đúng từ hay không. Điều tôi quan tâm là phản ứng của cộng đồng Công giáo mạng đối với câu nói ấy. Chính phản ứng đó hé lộ một điều rất thú vị về cách người Công giáo Việt Nam đang hiểu Đức Ki-tô. Lập luận phản đối soeur Hồng Quế phổ biến nhất có thể được tóm tắt như sau: Chúa Giê-su là Thiên Chúa. Vì thế, không thể dùng những phạm trù vốn dành cho con người để nói về Ngài. Ngài không thể được xếp cùng một loại với các hiền triết, các bậc thánh nhân, hay các nhân vật tôn giáo khác trong lịch sử nhân loại. Nhiều người còn đi xa hơn, trong việc cáo buộc soeur lạc giáo.
Lập luận này nghe có vẻ rất chính thống. Nhưng nếu nhìn từ lịch sử tín lý Ki-tô giáo, đặc biệt từ Công đồng Khalkedon năm 451, vấn đề trở nên rối rắm hơn nhiều. Thật vậy, nếu có một điều mà các giáo phụ đã dành gần năm thế kỷ đầu tiên của lịch sử Giáo hội để bảo vệ, thì đó chính là quyền được nói những điều thực sự thuộc về con người nơi Chúa Giê-su. Ngày nay, chúng ta thường nghĩ rằng cuộc tranh luận Ki-tô học trong Giáo hội tiên khởi là cuộc tranh luận về thần tính của Đức Ki-tô. Nhưng đó chỉ là một phần của câu chuyện. Vấn đề thực sự mà các thế hệ Ki-tô hữu tiên khởi phải đối diện là một nghịch lý nằm ngay trong các sách Tin mừng. Một mặt, Chúa Giê-su tha tội. Ngài nhận sự thờ lạy. Ngài tuyên bố: “Tôi và Cha là một” (Tin mừng theo Ioannes 10:30, bản dịch Tủ sách J.H. Newman.) Các tác giả Tân Ước không ngần ngại gán cho Ngài những danh hiệu vốn chỉ dành cho Thiên Chúa. Nhưng mặt khác, chính các sách Tin mừng cũng kể cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-su biết đói, biết khát, biết mệt mỏi. Ngài khóc. Ngài đau khổ. Ngài cảm thương. Ngài chết. Tin mừng theo Loukas còn có một câu đặc biệt gây khó khăn cho thần học: “Và Iesous cứ thăng tiến về trí tuệ và vóc dáng và trong ân điển với Trời và với con người” (Tin mừng theo Loukas 2:32, bản dịch Tủ sách J.H. Newman).
Nếu Ngài là Thiên Chúa, tại sao Ngài có thể “thăng tiến về trí tuệ”? Nếu Ngài là Thiên Chúa, tại sao Ngài phải học hỏi? Nếu Ngài là Thiên Chúa, tại sao Ngài có thể đau khổ? Nếu Ngài là Thiên Chúa, tại sao Ngài có thể chết?
Toàn bộ lịch sử Ki-tô học từ thế kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ năm có thể được hiểu như một nỗ lực trả lời những câu hỏi đó. Điều thú vị là hầu như tất cả các khuynh hướng dị-đoan lạc giáo Ki-tô học lớn trong thời kỳ này đều phát sinh từ những thiện ý. Người ta muốn bảo vệ một khía cạnh nào đó của mầu nhiệm Đức Ki-tô. Areios muốn bảo vệ tính duy nhất tuyệt đối của Thiên Chúa nên giảm thần tính của Đức Ki-tô. Apollinarius muốn bảo vệ sự hiệp nhất nơi Đức Ki-tô nên cho rằng Ngôi Lời (Lý/Logos) thay thế linh hồn lý trí của con người. Nestorios muốn bảo vệ tính nhân loại của Đức Ki-tô nên nhấn mạnh sự phân biệt giữa thần tính và nhân tính đến mức có vẻ như tồn tại hai chủ thể khác nhau. Eutyches thì đi theo hướng ngược lại. Ông muốn bảo vệ thần tính của Đức Ki-tô nên cho rằng sau biến cố nhập thể chỉ còn một bản tính duy nhất.
Tất cả các giải pháp ấy đều thất bại vì cùng một lý do: chúng giải quyết nghịch lý bằng cách hy sinh một trong hai cực của nghịch lý. Hoặc thần tính nuốt mất nhân tính. Hoặc nhân tính làm suy yếu thần tính. Hoặc hai bản tính bị trộn lẫn. Hoặc chúng bị tách rời.
Chính trong bối cảnh đó mà Công đồng Khalkedon năm 451 xuất hiện.
Có thể nói Khalkedon là một trong những khoảnh khắc quyết định nhất của lịch sử Ki-tô giáo. Công đồng tuyên bố rằng Đức Ki-tô là một ngôi vị duy nhất nhưng sở hữu trọn vẹn hai bản tính: bản tính Thiên Chúa và bản tính con người. Hai bản tính ấy tồn tại “không lẫn lộn, không biến đổi, không phân chia và không tách biệt”. Bốn phủ định nổi tiếng này không phải là một trò chơi ngôn ngữ. Chúng là thành quả của hơn bốn thế kỷ suy tư thần học. “Không lẫn lộn” và “không biến đổi” nhằm chống lại khuynh hướng để thần tính nuốt mất nhân tính. “Không phân chia” và “không tách biệt” nhằm chống lại khuynh hướng biến Đức Ki-tô thành hai chủ thể khác nhau. Nói cách khác, Khalkedon từ chối cả hai cực đoan. Đức Ki-tô không phải là một vị thần chỉ giả vờ làm người. Ngài cũng không phải chỉ là một con người đặc biệt được Thiên Chúa tuyển chọn. Ngài là Thiên Chúa thật và là con người thật. Cùng một lúc. Trọn vẹn. Không giảm bớt bên nào.
Điều này dẫn đến một hệ quả rất quan trọng nhưng thường ít được chú ý trong đời sống đức tin. Nếu Khalkedon đúng, thì những điều thực sự thuộc về con người có thể được nói về Chúa Giê-su. Ngài học hỏi. Ngài tiến bộ. Ngài suy tư. Ngài cầu nguyện. Ngài đau khổ. Ngài bị thử thách. Ngài vâng phục. Ngài thăng tiến về trí tuệ. Tất cả những điều ấy đều đúng. Không phải vì Ngài kém Thiên Chúa hơn. Nhưng chính vì Ngài là con người thật.
Trong nhiều thế kỷ tiếp theo, thần học Công giáo còn tiếp tục khai triển ý tưởng này xa hơn nữa. Giáo hội khẳng định rằng Đức Ki-tô có ý chí con người thực sự, có trí tuệ con người thực sự, có đời sống tâm lý con người thực sự. Nếu thiếu bất kỳ yếu tố nào trong số đó, nhân tính của Ngài sẽ không còn trọn vẹn. Nói cách khác, Giáo hội không cứu thần tính của Đức Ki-tô bằng cách làm cho nhân tính của Ngài trở nên giả tạo. Ngược lại, Giáo hội bảo vệ thần tính của Ngài bằng cách bảo vệ nhân tính của Ngài đến cùng.
Trở lại với câu hỏi ban đầu. Chúa Giê-su có thể được gọi là một “đấng giác ngộ” hay không?
Ở đây chúng ta cần phải phân biệt giữa hai cấp độ. Ở cấp độ ngôn ngữ và mục vụ, tôi hiểu vì sao nhiều người cảm thấy không thoải mái. Từ “giác ngộ” thuộc về một truyền thống tư duy khác. Nó không phải là ngôn ngữ quen thuộc của Kinh Thánh, của các giáo phụ hay của tín lý Công giáo. Nhưng ở cấp độ thần học, câu hỏi cần được đặt khác đi: Có điều gì trong sự khôn ngoan, sự hiểu biết chân lý hay sự nhận thức sâu xa về thực tại mà lại không thể được áp dụng cho nhân tính của Đức Ki-tô hay không?
Câu trả lời là không.
Nếu hiểu “giác ngộ” theo nghĩa đạt tới sự hiểu biết thâm sâu về chân lý, thì chắc chắn Đức Ki-tô vượt xa mọi hiền triết, mọi triết gia, mọi ngôn sứ và mọi nhà sáng lập tôn giáo trong lịch sử nhân loại. Vấn đề không nằm ở chỗ Chúa Giê-su có thể được mô tả bằng một phạm trù nhân loại hay không. Vấn đề nằm ở chỗ phạm trù ấy có đủ để mô tả Ngài hay không. Nói rằng Chúa Giê-su là một người khôn ngoan là đúng. Nhưng chưa đủ. Nói rằng Chúa Giê-su là một vị ngôn sứ là đúng. Nhưng chưa đủ. Nói rằng Chúa Giê-su là một đấng giác ngộ, hiểu theo nghĩa nào đó chẳng hạn, có thể đúng. Nhưng vẫn chưa đủ. Bởi vì đối với Ki-tô giáo, Ngài không chỉ là một con người đạt tới chân lý. Ngài chính là Chân Lý đã trở thành người.
Nhưng từ “chưa đủ” đến “lạc giáo” là một khoảng cách rất xa. Vì thế, điều mà cuộc tranh cãi này thực sự phơi bày không phải là một sai lầm Ki-tô học nghiêm trọng nào đó ở người phát ngôn. Nó phơi bày một điều khác đáng suy nghĩ hơn. Nhiều người Công giáo Việt Nam tuy tuyên xưng Khalkedon nhưng lại chưa hoàn toàn chấp nhận Khalkedon trong viễn tượng tín ngưỡng của mình. Trên văn bản, Đức Ki-tô có hai bản tính. Trong đời sống đạo, Ngài thường chỉ còn một. Đó là bản tính Thiên Chúa. Nhân tính của Ngài bị khuất lấp. Trong viễn tượng tín ngưỡng của nhiều người, Đức Ki-tô giống như một Thiên Chúa đi ngang qua thế giới con người hơn là một Thiên Chúa thực sự bước vào thân phận con người. Nhưng chính điều đó là điều mà Khalkedon đã cố gắng ngăn chặn.
Từ Khalkedon đến người Công giáo Việt Nam hôm nay
Nếu dừng lại ở đây, câu chuyện chỉ còn là một tranh luận thần học xảy ra cách đây hơn mười lăm thế kỷ. Nhưng điều làm cho cuộc tranh cãi hiện nay trở nên đáng quan tâm là vì nó cho phép chúng ta nhìn thấy một đặc điểm rất sâu trong đời sống Công giáo ở Việt Nam. Nói một cách đơn giản, phần lớn người Công giáo Việt Nam biết Chúa Giê-su qua lòng sùng tín nhiều hơn là qua Ki-tô học.
Điều này không hẳn là một phê phán. Lòng sùng tín có những sức mạnh riêng của nó. Chính lòng sùng tín đã giúp đức tin tồn tại qua các thời kỳ bách hại, qua chiến tranh, qua nghèo đói và qua những biến động xã hội kéo dài nhiều thế hệ. Nơi nhiều giáo xứ, người tín hữu có thể không biết Khalkedon là gì, không biết Areios hay Nestorios là ai, nhưng họ biết cầu nguyện, biết lần chuỗi, biết tham dự thánh lễ và biết sống đời sống đức tin một cách trung thành.
Nhưng lòng sùng tín có những giới hạn của nó. Một trong những giới hạn đó là nó thường có xu hướng nhấn mạnh đến thần tính của Đức Ki-tô nhiều hơn nhân tính của Ngài. Trong các bài giảng, các bài hát và các kinh nguyện quen thuộc, Chúa Giê-su thường xuất hiện như đấng toàn năng, toàn tri, toàn thiện. Hình ảnh ấy dĩ nhiên đúng. Vấn đề là hình ảnh còn lại – Chúa Giê-su như một con người thật sự – nhiều khi trở nên mờ nhạt. Người tín hữu dễ dàng chấp nhận rằng Chúa Giê-su làm phép lạ nhưng ít suy tư về việc Ngài phải học nói như mọi đứa trẻ khác. Người tín hữu dễ dàng chấp nhận rằng Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa nhưng ít suy tư về việc Ngài đã phải học nghề mộc từ người bố Giu-se. Người tín hữu dễ dàng chấp nhận rằng Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế nhưng ít suy tư về việc Ngài đã trải qua những năm tháng dài sống một cuộc đời bình thường ở làng Nazareth. Đó là lý do vì sao bất cứ ngôn ngữ nào nhấn mạnh đến nhân tính của Đức Ki-tô cũng dễ gây khó chịu. Không chỉ từ “giác ngộ”. Có lẽ những từ như “học hỏi”, “trưởng thành”, “khám phá”, “kinh nghiệm”, hay thậm chí “vật lộn” cũng có thể gây ra những phản ứng tương tự nếu người ta không đặt chúng trong khung cảnh Ki-tô học của Khalkedon. Nhưng điều đáng chú ý là các sách Tin Mừng lại không hề ngần ngại sử dụng loại ngôn ngữ đó. Các tác giả Tân Ước dường như ít sợ nhân tính của Đức Ki-tô hơn nhiều Ki-tô hữu ngày nay.
Có lẽ hiện tượng này không chỉ là một vấn đề thần học. Nó còn là một vấn đề văn hóa. Nền văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, chịu ảnh hưởng đồng thời của Khổng giáo, Phật giáo và cấu trúc xã hội truyền thống, thường dành sự kính trọng rất lớn cho những nhân vật được xem là thánh thiêng. Nhưng sự kính trọng ấy nhiều khi đi kèm với việc đặt nhân vật đó ra ngoài phạm vi trải nghiệm của con người bình thường. Một vị thánh càng được tôn kính thì càng trở nên xa cách. Một bậc hiền nhân càng được ngưỡng mộ thì càng trở nên phi thường. Một nhân vật tôn giáo càng được yêu mến thì càng khó được nhìn như một con người thực sự. Xu hướng đó vô tình ảnh hưởng cả cách người ta nhìn Đức Ki-tô. Ngài được nâng lên rất cao, nhưng đôi khi cao đến mức không còn chạm được, cao đến mức không còn giống chúng ta.
Thế nhưng toàn bộ tín lý nhập thể lại đi theo hướng ngược lại. Thiên Chúa không cứu thế giới từ khoảng cách. Ngài cứu thế giới bằng cách bước vào thế giới. Ngài không cứu nhân loại bằng cách tránh né thân phận con người. Ngài cứu nhân loại bằng cách mang lấy thân phận con người. Các giáo phụ thường nói rằng điều gì không được Đức Ki-tô mang lấy thì điều đó không được cứu chuộc. Nếu Ngài không thực sự mang lấy trí tuệ con người thì trí tuệ con người không được cứu chuộc. Nếu Ngài không thực sự mang lấy ý chí con người thì ý chí con người không được cứu chuộc. Nếu Ngài không thực sự mang lấy kinh nghiệm con người, thì kinh nghiệm con người không được cứu chuộc.
Đó chính là điều mà Khalkedon cố gắng bảo vệ. Vì thế, xét cho cùng, câu hỏi quan trọng nhất mà cuộc tranh cãi này đặt ra không phải là liệu một cụm từ nào đó có thích hợp hay không. Câu hỏi quan trọng hơn là chúng ta đang có một Ki-tô học như thế nào. Một Ki-tô học trong đó thần tính của Đức Ki-tô nuốt mất nhân tính của Ngài? Hay một Ki-tô học trong đó thần tính và nhân tính cùng được bảo vệ như truyền thống Khalkedon đã làm? Nếu cuộc tranh cãi hiện nay có một giá trị tích cực nào đó, thì có lẽ chính là ở chỗ nó buộc chúng ta phải quay trở lại với câu hỏi nền tảng ấy. Mầu nhiệm trung tâm của Ki-tô giáo là việc Thiên Chúa trở thành con người.
Nhưng có vẻ như, hơn mười lăm thế kỷ sau Khalkedon, đó vẫn là sự thật khó chấp nhận đối với một số tín hữu Công giáo Việt Nam. Thiết nghĩ, trước khi chúng ta tranh cãi xem một từ ngữ nào đó có phù hợp hay không, điều đáng làm hơn là quay trở lại với Khalkedon và tự hỏi: chúng ta có thực sự tin vào nhân tính trọn vẹn của Đức Ki-tô như các giáo phụ đã tin hay không?
