- Chủ đề Author
- #1
Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh (HCM) đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Từ đây, sự nghiệp chính trị của nhiều nhân vật đạo đời cũng bị ảnh hưởng, đưa họ lại gần hoặc xa nhau.
Nổi bật trong số đó có Cựu hoàng Bảo Đại và Đức cha Lê Hữu Từ. Cả 2 đều theo chủ nghĩa dân tộc, và có tầm ảnh hưởng rộng trong giai đoạn lịch sử Việt Nam, từ 1945 đến 1954.
Đồng sự trong Chính phủ Liên hiệp
Cho đến nay, không có tài liệu nào cho thấy Cựu hoàng Bảo Đại đã từng gặp Giám mục Lê Hữu Từ trước thời điểm năm 1945, bởi lẽ, trước khi được Tòa thánh bổ nhiệm làm Giám mục Phát Diệm (19/7/1945), đức cha Lê Hữu Từ là một đan sĩ sống tách biệt trong Hội dòng Xitô Thánh Gia, trước là Phước Sơn – Quảng Trị, sau là Châu Sơn – Ninh Bình.
Cuộc gặp chính thức đầu tiên giữa hai người là vào ngày 29/10/1945, ngày lễ tấn phong Giám mục của Đức cha Lê Hữu Từ. Cựu hoàng Bảo Đại - khi đó là Cố vấn Vĩnh Thụy, đã cùng phái đoàn chính phủ lâm thời gồm các ông: Võ Nguyên Giáp – Bộ trưởng Nội vụ, Phạm Văn Đồng – Bộ trưởng Tài chính, Nguyễn Mạnh Hà – Bộ trưởng kinh tế, Trần Huy Liệu – Bộ trưởng bộ tuyên truyền, tới tham dự.
Trong bữa tiệc mừng sau đó, Đức cha Lê đã chủ động hỏi Bảo Đại về những dự tính tương lai và ngỏ ý sẵn sàng làm hậu thuẫn cho ông, nhưng chỉ nhận được cái lắc đầu ngao ngán của Bảo Đại. (Đoàn Độc Thư và Xuân Huy, Giám mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm 1945 -1954, Sử liệu Hiện đại 1973, 44 – 45).
Ngày 6/11/1945, Đức cha Lê đã lên Hà Nội gặp và cảm ơn HCM, vì đã cử phái đoàn và gửi thư chúc mừng. Dịp này, HCM đã chính thức mời Đức cha làm Cố vấn và hứa sẽ về thăm Phát Diệm. Ngài đã nhận lời. (Sđd. 86)
Dù cùng làm cố vấn, nhưng dường như cả 2 ít có cơ hội gặp nhau và trong suốt thời gian cả 2 cùng làm cố vấn 1946 – 1947, phía Việt Minh được cho là có phần nể trọng và quan tâm đến Giám mục Lê Hữu Từ hơn so với Cố vấn Vĩnh Thụy, mặc dù đi đâu HCM cũng dẫn cố vấn Vĩnh Thụy đi theo.
Cuộc gặp chính thức đầu tiên giữa hai người là vào ngày 29/10/1945, ngày lễ tấn phong Giám mục của Đức cha Lê Hữu Từ. Cựu hoàng Bảo Đại - khi đó là Cố vấn Vĩnh Thụy, đã cùng phái đoàn chính phủ lâm thời gồm các ông: Võ Nguyên Giáp – Bộ trưởng Nội vụ, Phạm Văn Đồng – Bộ trưởng Tài chính, Nguyễn Mạnh Hà – Bộ trưởng kinh tế, Trần Huy Liệu – Bộ trưởng bộ tuyên truyền, tới tham dự.
Trong bữa tiệc mừng sau đó, Đức cha Lê đã chủ động hỏi Bảo Đại về những dự tính tương lai và ngỏ ý sẵn sàng làm hậu thuẫn cho ông, nhưng chỉ nhận được cái lắc đầu ngao ngán của Bảo Đại. (Đoàn Độc Thư và Xuân Huy, Giám mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm 1945 -1954, Sử liệu Hiện đại 1973, 44 – 45).
Ngày 6/11/1945, Đức cha Lê đã lên Hà Nội gặp và cảm ơn HCM, vì đã cử phái đoàn và gửi thư chúc mừng. Dịp này, HCM đã chính thức mời Đức cha làm Cố vấn và hứa sẽ về thăm Phát Diệm. Ngài đã nhận lời. (Sđd. 86)
Dù cùng làm cố vấn, nhưng dường như cả 2 ít có cơ hội gặp nhau và trong suốt thời gian cả 2 cùng làm cố vấn 1946 – 1947, phía Việt Minh được cho là có phần nể trọng và quan tâm đến Giám mục Lê Hữu Từ hơn so với Cố vấn Vĩnh Thụy, mặc dù đi đâu HCM cũng dẫn cố vấn Vĩnh Thụy đi theo.
Ảnh: Redsvn.net
Khiên cưỡng hợp tác
Về mối quan hệ giữa 2 người, các nguồn tài liệu đều cho thấy, cho tới cuối năm 1947, mối quan hệ giữa họ không có gì sâu sắc, bằng chứng là, khi nghe tin Bảo Đại chấp nhận về thành lập chính phủ ngày 10/9/1947, Đức cha Lê đã tỏ ra dè dặt, một phần vì "ngài không thấy HCM nói gì" (Ibid. 150), một phần vì sau lần gặp Bảo Đại tại Hồng Kông, Đức cha Lê rất "thất vọng vì hoàng đế không có khả năng làm việc với những người dân tộc chủ nghĩa Việt Nam (Charles Keith, Công giáo Việt Nam từ Đế chế đến Quốc gia, Phạm Nguyên Trường dịch, Người Việt Books 2016, tr. 616).
Tuy nhiên, sau Hiệp định Élysée ký kết tháng 3/1949, Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam, nhất là khi biết tin Tòa thánh Vatican đã chính thức công nhận Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng thành lập ngày 14/6/1949, và Bảo Đại là Quốc trưởng, sự dè dặt nơi Đức cha Lê có chút thay đổi, nhưng ngài cũng không vồn vã mà vẫn giữ khoảng cách nhất định với Bảo Đại, vì sợ mang tiếng theo Pháp.
Về phần Bảo Đại, nhận thấy Phát Diệm là một khối quần chúng đáng kể thì rất lưu tâm, nên ông đã nhờ Pháp cho những thanh niên Việt Nam về Phát Diệm liên lạc với Đức cha Lê, hứa sẽ giúp đỡ bằng mọi cách, và nếu cần quân Liên Hiệp Pháp về giúp Phát Diệm thì ông cho về ngay. Nhưng lập trường của Đức cha Lê rất rõ ràng. Ngài chống cả Pháp và Cộng sản. (Đoàn Độc Thư và Xuân Huy, Giám mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm 1945 -1954, Sử liệu Hiện đại 1973, 224)
Ngày 16/10/1949, nhằm ngày Chúa Nhật, Phát Diệm náo loạn vì bất ngờ 2 đại đội dù của Liên Quân Pháp đổ quân xuống Phát Diệm. Trong Hồi ký của mình, Bảo Đại cho rằng, chính ông đã cử đội quân dù này đến để giúp Đức cha Lê bảo vệ An toàn khu Phát Diệm trước sức tấn công của cả 2 phía Việt Minh và Pháp. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, 386-387)
Về phần mình, khi biết tin, quân nhảy dù là do Bảo Đại phái đến, Đức cha Lê đã rất khó chịu vì bản thân ngài muốn giữ cho Phát Diệm độc lập khỏi Việt Minh cũng như thực dân Pháp (Đoàn Độc Thư và Xuân Huy, Giám mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm 1945 -1954, Sử liệu Hiện đại 1973, 227), nên đã phản ứng gay gắt với tướng Nguyễn Văn Vỹ, người phụ trách đội quân nhảy dù và yêu cầu ông không được xâm phạm vào An toàn khu.
Thấy Đức cha Lê tỏ rõ thái độ bất hợp tác, để tỏ thiện chí muốn giúp Phát Diệm chống Việt Minh, Bảo Đại một mặt yêu cầu lính tráng tuân thủ các yêu cầu của Đức cha Lê, mặt khác, ông ký một chỉ dụ cho phép nới rộng quyền quản lý An toàn khu, cũng như đồng ý cấp cho lực lượng tự vệ Bùi Chu - Phát Diệm 300.000 đồng mỗi tháng. (Bảo Đại, Con Rồng Việt Nam, tr. 402; Lê Hữu Từ, Hồi Ký, tr. 24 - 27)
Theo chỉ dụ, lực lượng Tự vệ Công giáo tại khu vực này chịu trách nhiệm trực tiếp với Quốc trưởng Bảo Đại như một Phong trào Quốc gia Tự vệ. Điều này, cùng với sự kiên cường của lực lượng tự vệ, đã tạo ra một thế đứng độc lập cho Bùi Chu - Phát Diệm, giúp vùng đất này nằm ngoài sự kiểm soát trực tiếp của cả Việt Minh lẫn người Pháp trong một thời gian.
Tuy nhiên, tình thế chính trị thay đổi nhanh chóng. Pháp thất bại tại Điện Biên Phủ. Trong bối cảnh các phe phái họp tại Genève bàn về số phận của Việt Nam, Giám mục Lê Hữu Từ đã bí mật yêu cầu Bảo Đại thông qua các kênh ngoại giao và quân sự để nỗ lực giữ lại khu vực Phát Diệm và Bùi Chu cho phía Quốc gia, nhưng nỗ lực này đã không thành công.
Ngày 20/7/1954, Hiệp định Genève bất ngờ được ký kết. Mong muốn được giữ lại An toàn khu Phát Diệm thất bại, trước đó, ngày 30/6/1954, Đức cha Lê cùng khoảng 142 linh mục rời Phát Diệm vào Nam. Một năm sau, ngày 5/10/1955, Bảo Đại bị truất phế và phải sống lưu vong tại Pháp cho tới khi qua đời. Cuộc gặp mang tính lịch sử của 2 nhân vật lịch sử chấm dứt, kết thúc một giai đoạn lịch sử đầy biến động.
Tuy nhiên, sau Hiệp định Élysée ký kết tháng 3/1949, Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam, nhất là khi biết tin Tòa thánh Vatican đã chính thức công nhận Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng thành lập ngày 14/6/1949, và Bảo Đại là Quốc trưởng, sự dè dặt nơi Đức cha Lê có chút thay đổi, nhưng ngài cũng không vồn vã mà vẫn giữ khoảng cách nhất định với Bảo Đại, vì sợ mang tiếng theo Pháp.
Về phần Bảo Đại, nhận thấy Phát Diệm là một khối quần chúng đáng kể thì rất lưu tâm, nên ông đã nhờ Pháp cho những thanh niên Việt Nam về Phát Diệm liên lạc với Đức cha Lê, hứa sẽ giúp đỡ bằng mọi cách, và nếu cần quân Liên Hiệp Pháp về giúp Phát Diệm thì ông cho về ngay. Nhưng lập trường của Đức cha Lê rất rõ ràng. Ngài chống cả Pháp và Cộng sản. (Đoàn Độc Thư và Xuân Huy, Giám mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm 1945 -1954, Sử liệu Hiện đại 1973, 224)
Ngày 16/10/1949, nhằm ngày Chúa Nhật, Phát Diệm náo loạn vì bất ngờ 2 đại đội dù của Liên Quân Pháp đổ quân xuống Phát Diệm. Trong Hồi ký của mình, Bảo Đại cho rằng, chính ông đã cử đội quân dù này đến để giúp Đức cha Lê bảo vệ An toàn khu Phát Diệm trước sức tấn công của cả 2 phía Việt Minh và Pháp. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, 386-387)
Về phần mình, khi biết tin, quân nhảy dù là do Bảo Đại phái đến, Đức cha Lê đã rất khó chịu vì bản thân ngài muốn giữ cho Phát Diệm độc lập khỏi Việt Minh cũng như thực dân Pháp (Đoàn Độc Thư và Xuân Huy, Giám mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm 1945 -1954, Sử liệu Hiện đại 1973, 227), nên đã phản ứng gay gắt với tướng Nguyễn Văn Vỹ, người phụ trách đội quân nhảy dù và yêu cầu ông không được xâm phạm vào An toàn khu.
Thấy Đức cha Lê tỏ rõ thái độ bất hợp tác, để tỏ thiện chí muốn giúp Phát Diệm chống Việt Minh, Bảo Đại một mặt yêu cầu lính tráng tuân thủ các yêu cầu của Đức cha Lê, mặt khác, ông ký một chỉ dụ cho phép nới rộng quyền quản lý An toàn khu, cũng như đồng ý cấp cho lực lượng tự vệ Bùi Chu - Phát Diệm 300.000 đồng mỗi tháng. (Bảo Đại, Con Rồng Việt Nam, tr. 402; Lê Hữu Từ, Hồi Ký, tr. 24 - 27)
Theo chỉ dụ, lực lượng Tự vệ Công giáo tại khu vực này chịu trách nhiệm trực tiếp với Quốc trưởng Bảo Đại như một Phong trào Quốc gia Tự vệ. Điều này, cùng với sự kiên cường của lực lượng tự vệ, đã tạo ra một thế đứng độc lập cho Bùi Chu - Phát Diệm, giúp vùng đất này nằm ngoài sự kiểm soát trực tiếp của cả Việt Minh lẫn người Pháp trong một thời gian.
Tuy nhiên, tình thế chính trị thay đổi nhanh chóng. Pháp thất bại tại Điện Biên Phủ. Trong bối cảnh các phe phái họp tại Genève bàn về số phận của Việt Nam, Giám mục Lê Hữu Từ đã bí mật yêu cầu Bảo Đại thông qua các kênh ngoại giao và quân sự để nỗ lực giữ lại khu vực Phát Diệm và Bùi Chu cho phía Quốc gia, nhưng nỗ lực này đã không thành công.
Ngày 20/7/1954, Hiệp định Genève bất ngờ được ký kết. Mong muốn được giữ lại An toàn khu Phát Diệm thất bại, trước đó, ngày 30/6/1954, Đức cha Lê cùng khoảng 142 linh mục rời Phát Diệm vào Nam. Một năm sau, ngày 5/10/1955, Bảo Đại bị truất phế và phải sống lưu vong tại Pháp cho tới khi qua đời. Cuộc gặp mang tính lịch sử của 2 nhân vật lịch sử chấm dứt, kết thúc một giai đoạn lịch sử đầy biến động.
Cùng chủ đề
