Tủ sách J.H. Newman: Dịch kinh và trường hợp Thánh Vịnh 110:5

5.00 star(s) 1 Vote
  • Chủ đề Author

Trên diễn đàn này, hai tuần trước, có bài viết của tác giả @peter.m.nguyen bàn về việc dịch câu Thánh Vịnh 110:5. Câu này liên hệ đến câu 110:1 mở đầu, là câu Thánh Vịnh được trích dẫn nhiều lần trong Tân Ước, có lần bởi chính Chúa Giê-su (Matt 22:44), và nó trở thành tiền đề nền tảng của Ki-tô học về sau. Cám ơn tác giả peter.m.nguyen đã cho một cơ hội được đóng góp thêm cho những vấn đề liên quan, và cũng qua đó chia sẻ phương pháp tiếp cận của Tủ sách J.H. Newman trong việc dịch kinh.​


phailamgi_Tủ sách J.H. Newman Dịch kinh và trường hợp Thánh Vịnh 1105_cv1.jpg


Bên cạnh những thách đố thông thường của việc dịch thuật, như chọn dịch theo phương pháp nào, tương đương về hình thức (dịch theo từ) hay tương đương về chức năng (dịch theo nghĩa), hay một lựa chọn nào đó giữa hai thái cực này, việc dịch kinh còn có những thách đố khác như dịch theo, hay trung thành với, truyền thống thần học nào. Cùng một câu kinh nhưng những truyền thống thần học khác nhau có thể dịch khác nhau. Ví dụ, cùng là “πίστεως Ἰησοῦ Χριστοῦ” (Rom 3:22) nhưng truyền thống này dịch “sự trung tín của Giê-su Ki-tô” và truyền thống khác thì “sự trung tín nơi Giê-su Ki-tô”. Rõ ràng hai cách dịch này có nghĩa hoàn toàn khác nhau. Bản dịch Công giáo của NRSV dịch và chú cả hai.

Câu Thánh Vịnh 110:5 còn rắc rối hơn. Trước khi xem xét câu này, chúng ta hãy cùng xem xét vế đầu của câu 1, liên quan, của bài Thánh Vịnh:

נְאֻם יְהוָה לַֽאדֹנִי

Vế đầu của câu 110:1 này có ba chữ Hebrew, từ phải sang trái (như tiếng Trung, Hebrew viết từ phải sang trái): נְאֻם, phán/bảo/nói – יְהוָה, YHWH – לַֽאדֹנִי, chủ/chúa/thầy của tôi.

Như đã nói trong bài “Chúa, Trời, và Chúa Trời”, bốn ký tự latin-hóa YHWH là tên của đấng thần linh tối cao của người Do Thái và cấm phát âm. Người Do Thái khi gặp bốn ký tự “kị húy” này thì đọc là “adonay”, có nghĩa là chúa/chủ/thầy. Kinh Thất thập (LXX), bản dịch Hy Lạp của kinh Hebrew, mà người Ki-tô giáo về sau gọi là kinh Cựu Ước, ra đời hơn hai trăm năm trước Chúa Giê-su, khi bắt gặp YHWH thì dịch là kύριος (kyrios), cũng có nghĩa là chủ/chúa/thầy. Vế này, do đó, được kinh Thất thập, Thánh Vịnh 109:1, dịch là, εἶπεν ὁ kύριος τῷ kυρίῳ μου. Xin chú ý ở đây kύριος xuất hiện hai lần (kύριος và kυρίῳ). Từ trái sang:

εἶπεν - ὁ kύριος - τῷ kυρίῳ μου

phán/bảo/nói - chúa - với chúa (của) tôi.

Tiếng Việt có thể viết lại là: “Chúa bảo với chúa (của) tôi.”

Chữ “chúa” thứ nhất chỉ Trời, đấng thần linh tối cao; chữ “chúa” thứ hai chỉ người chủ/chúa/ thầy của “tôi”, người xướng bài nguyện ca này. Vế kế tiếp của câu 1 này không có gì rắc rối về từ ngữ nên chỉ ghi lại, “hãy ngồi/ngự bên phải ta”. Ghép hai vế:

“Chúa bảo với chúa tôi, hãy ngự bên phải ta”. [Xin lưu ý động từ ngồi/ngự.]

Nay chúng ta quay sang chủ đề chính của bài viết này, câu 5 của Thánh Vịnh 110. Vế thứ nhất, và ở đây sự rắc rối xuất hiện:

אֲדֹנָי עַל־יְמִֽינְךָ

Chữ đầu tiên từ phải sang, אֲדֹנָי, chính là “adonay” (mà không phải là “adoni”, chúa của tôi, trong câu 1), chữ mà người Do Thái dùng để đọc bốn ký tự kị húy, יְהוָה YHWH, tên của đấng thần linh tối cao, Trời. Chữ kép Hebrew kế tiếp, עַל־יְמִֽינְךָָ, có nghĩa là “bên phải của ông/ngài”, ngôi thứ hai. [Lưu ý: không có động từ.]

Vậy “adonay” này chỉ ai? Luôn luôn, “adonay” trong Thánh Vịnh chỉ đấng thần linh tối cao, Trời.

phailamgi_Tủ sách J.H. Newman Dịch kinh và trường hợp Thánh Vịnh 1105_cv2.jpg


Và ngôi thứ hai “ông/ngài” này chỉ ai? Người xướng bài Thánh Vịnh nói với ai? Có hai khả năng:
  1. Chỉ đấng Cứu thế (Messiah, Ki-tô): Adonay/Trời ở bên tay phải đấng Cứu thế, nghĩa là Trời phù trợ đấng Cứu thế trong chiến trận và trong phán xử. Ý nghĩa này phù hợp với ý Trời ở bên tay phải của chủ thể đang được nói đến trong Thánh Vịnh 16:8 hay 109:31 hay 121:5, đồng thời phù hợp với ý hệ vương quyền Cận Đông cổ đại mà ở đó thánh thần chiến đấu cho vua chúa. Nhưng nó có vẻ như ngược lại với câu 1, khi đấng Cứu thế được đặt ngồi bên phải của Trời.​
  2. Chỉ Trời: Đấng Cứu thế ở bên tay phải của Adonay/Trời, phù hợp với câu 1. Trong trường hợp này, và vì “adonay” chỉ Trời, mà không chỉ đấng nào khác, người xướng bài Thánh Vịnh nói với Trời, đấng thần linh tối cao, với giọng cảm thán, Chúa, (chúa của tôi trong câu 1) từ tay phải của ngài, đập tan các vương quyền.​
Kinh Thất thập dịch vế này là kύριος ἐκ δεξιῶν σου, và do đó ý nghĩa của nó trở nên rõ ràng theo khả năng 2: người xướng bài Thánh Vịnh nói với Trời rằng, “Ôi Chúa, từ tay phải của ngài, đập tan các vương quyền.” [Một lần nữa, chúng ta lưu ý, khác với câu 1, câu 5 không có động từ ngồi hay đứng bên phải của ngài].

Những phân tích sơ bộ này cho thấy ngữ nghĩa của kinh sách, ít nhất trên phương diện học thuật, đòi hỏi diễn giải. Thánh Vịnh là một tập thơ, và do đó nó bảo lưu những đặc thù thơ của nó, trong đó có những đặc thù về tính đa nghĩa, về ẩn dụ. Điều này gợi ý rằng “ngồi bên phải” (câu 1) và “từ bên phải” (câu 5) không nhất thiết phải được hiểu như nhau. Có khi một bên là tả thực một bên là ẩn dụ. Cả hai đều có truyền thống của nó, cả trong Do Thái và Ki-tô giáo.

Những bản dịch kinh cho nhu cầu phụng vụ thường chọn một truyền thống thần học và dịch trong truyền thống đó theo cách dịch tương đương về chức năng, hay dịch theo nghĩa. Các bản dịch kinh của Tủ sách J.H. Newman, cho nhu cầu học hỏi kinh sách, chọn cách dịch tương đương về hình thức, hay dịch theo mặt chữ, và dành việc diễn giải thần học cho người đọc. Như đã nói trong các lời dẫn ở những cuốn đầu của Tân Ước đã xuất bản của Tủ sách, cách dịch này giúp người học lần lại sự phát triển của tín lý. Dịch theo nghĩa thì thường bao hàm các tín lý chỉ được phát triển về sau và làm khuất lấp ngữ nghĩa ban đầu. Cách dịch này có thể phù hợp với nhu cầu phụng vụ nhưng không thuận lợi cho việc học hỏi kinh sách. Thánh Vịnh 110:1 và 5 là một ví dụ điển hình.

Tham khảo các bản dịch tiếng Anh

Các bản dịch Thánh Vịnh tiếng Anh dùng ba chữ “lord”: một chữ viết hoa các ký tự, LORD, để dịch bốn ký tự “kị húy” YHWH; một chữ chỉ viết hoa ký tự đầu, Lord, để chỉ đấng Cứu thế (Messiah, Ki-tô); và một chữ viết thường, lord, để chỉ con người theo nghĩa chủ/chúa/thầy thông thường. Do đó, vế đầu của câu 110:1 đọc là, “the LORD says to my lord” (bản NRSV). Vế đầu của câu 110:5 đọc là, “the Lord is at your right hand.” Chúng ta có thể thấy những cách viết hoa này là một phát kiến về sau, và do đó đã hàm ý diễn giải, không có trong các bản Hebrew hay Hy Lạp (kinh Thất thập). Với người Do Thái, đọc “adonay” hay “kyrios” trong cả hai câu thì cũng chỉ cùng một ngôi vị, một đấng thần linh tối cao. Với tín hữu Ki-tô giáo, đọc adonay/kyrios trong câu 110:5 thì họ muốn chỉ đấng Cứu thế, và do đó là Lord/Chúa mà không phải là LORD/CHÚA như trong bản Hebrew. Ki-tô học, với ngôi Hai Thiên Chúa, về sau phát triển trên nền tảng này.

phailamgi_Tủ sách J.H. Newman Dịch kinh và trường hợp Thánh Vịnh 1105_1.jpg


Tham khảo hai bản dịch tiếng Việt phổ biến

Bản của NPDCGKPV

Vế đầu câu 110:1,

Sấm ngôn của ĐỨC CHÚA
ngỏ cùng Chúa Thượng tôi
Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị


Vế đầu của câu 110:5,

Tâu Chúa Thượng, Đức Chúa ở bên hữu Ngài

Bản của Linh mục Nguyễn Thế Thuấn:

Vế đầu câu 110:1,

Sấm của Yavê cho Chúa tôi:
hãy ngự bên hữu Ta


Vế đầu của câu 110:5,

Lạy Chúa tôi, bên hữu Người

Nhận xét:​
  1. Linh mục Nguyễn Thế Thuấn dùng “Yavê” cho YHWH, như bản dịch Jerusalem, và do đó tránh được việc có hai chữ “chúa” trong cùng một câu không có trong bản Hebrew, nhưng lại tách ra khỏi truyền thống kinh Thất thập (hai chữ kyrios, là hai chữ “lord” hay “chúa” về sau).​
  2. “Chúa thượng” là cách nói của quan tâu với vua. (Như Tăng phó Nguyễn Thường tâu với vua Lý Cao Tông, “nay chúa thượng đi tuần du không có chừng mực”, trong Việt Sử lược.) “Tâu Chúa Thượng, Đức Chúa ở bên hữu Ngài” là diễn giải chứ không còn là dịch. [“Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị” cũng là diễn giải, hiểu theo nghĩa viết lại một câu khác để diễn đạt nghĩa của câu được dịch. Diễn giải theo truyền thống nào là một vấn đề khác. Tuy nhiên, “Đức Chúa ở bên hữu Ngài”, theo khả năng 1 ở trên, không sai về ngữ nghĩa.]​
  3. “Lạy Chúa tôi”, vế đầu 110:5, cũng là diễn giải, thêm chữ “tôi” để làm rõ “adonay” này là đấng Cứu thế, vì trong cả hai bản Hebrew và Thất thập của 110:5 không có “chúa tôi”. Thêm nữa, với “lạy Chúa tôi, bên hữu Người” thì “Người” này là ngôi thứ hai hay ngôi thứ ba?​
  4. [Không liên quan nhưng cũng muốn nói qua về tính nhất quán của các bản dịch: bản dịch của Linh mục Nguyễn Thế Thuấn, trong Matt 22:44, dịch cùng chính lời của Chúa Giê-su dẫn câu 110:1 là, “Chúa đã nói cùng Chúa tôi”, mà không phải là “Sấm của Yavê cho Chúa tôi” như ở trên. Trong khi đó, với bản NPDCGKPV, thay vì “sấm của ĐỨC CHÚA ngỏ cùng”, “Đức Chúa (không viết hoa) phán cùng Chúa Thượng tôi”. Một lần nữa, dịch kinh đòi hỏi chú giải, đặc biệt là ở những điểm có sự thiếu nhất quán (như dịch cùng một câu trích nhưng từ Hebrew, trong Cựu Ước, thì khác từ Hy Lạp, trong Tân Ước, chẳng hạn.)]​
Tạm kết

Dịch kinh là một tiến trình liên tục của một truyền thống. Mỗi thế hệ cần phải dịch lại kinh sách cho thế hệ mình. Các bản dịch của Tủ sách J.H Newman, với cách dịch “theo mặt chữ” cho nhu cầu học tập, là một đóng góp và là lời mời gọi tham dự vào một tiến trình không thể thiếu trong đời sống tín ngưỡng đó.

Thánh Vịnh, là Ψαλμὸς (hay số nhiều Ψαλμοί) mà Tủ sách J.H. Newman dịch lại theo nghĩa đen là bài ca cầu chuyện, hay Nguyện ca, là một phần quan trọng của di sản kinh sách Do Thái-Cứu thế (Judeo-Christian). Trong số 150 bài ca cầu nguyện này, bài 110 (109 trong kinh Thất thập) là một trong những bài được biết đến nhiều nhất. Xuyên suốt lịch sử, nó được đưa vào kinh Chiều, vào tụng ca Gregorian, được các nhạc sĩ vĩ đại của giáo hội từ Tomas Luis de Victoria đến Handel đến Vivaldi đến Mozart đưa vào âm nhạc của họ. Nó cũng đi vào nhạc đại chúng trong thời hiện đại. Có thể nói, Thánh Vịnh, hay Nguyện ca, là một cánh cửa lớn mở vào tòa lâu đài truyền thống tri thức Ki-tô giáo.​

Ảnh trong bài: Canva
 

Tủ sách J.H. Newman: Giáo dục khai phóng Công giáo – John Henry Newman và câu hỏi về mục đích của giáo dục

Những năm gần đây, khái niệm “giáo dục khai phóng” xuất hiện ngày càng nhiều trong các cuộc thảo luận về giáo dục tại Việt Nam. Người ta ca ngợi nó như một con đường dẫn tới sáng tạo, tư duy phản biện và năng lực thích ứng trong một thế giới biến động. Đồng thời, người ta cũng phê phán nó như một sản phẩm du nhập từ phương Tây, một mô hình xa lạ với truyền thống văn hóa Việt Nam, thậm chí là một phương tiện truyền tải những giá trị chính trị và xã hội không phù...

Cha Trương Bửu Diệp: Đức Thánh Cha nhắc đến biến cố tuyên phong chân phước

0 lượt xem

Bài viết chờ bạn bình luận

Bên trên