Thành viên
- Tham gia
- 17/12/23
- Bài viết
- 138
- Chủ đề Author
- #1
Có những nỗi sợ không đến từ biến cố bất ngờ, mà âm thầm lớn lên mỗi ngày, cùng với nhịp sống khắc nghiệt của xã hội. “Sợ một ngày thực tế quá đói khát, bọn trẻ sẽ phải ăn luôn cả những giấc mơ…” là một nỗi sợ như thế. Nó không ồn ào, không kịch tính, nhưng đủ khiến người lớn phải chậm lại và tự hỏi: chúng ta đang để điều gì xảy ra với tuổi thơ của con trẻ?
Ảnh: phailamgi
“Đói khát” không chỉ là cái đói của bữa ăn thiếu thốn, mà còn là cái đói của cơ hội, của công bằng, của những con đường mở ra cho tương lai. Khi cuộc sống đặt gánh nặng mưu sinh quá sớm lên vai trẻ em, các em không còn được quyền mơ ước một cách hồn nhiên. Giấc mơ, thay vì là điều để nuôi dưỡng và hướng tới, lại trở thành thứ xa xỉ, thậm chí là gánh nặng cần phải gạt bỏ.
“Ăn giấc mơ” là một hình ảnh đau đớn. Đó là khi một đứa trẻ phải nghỉ học để đi làm phụ giúp gia đình; khi ước mơ đại học bị gác lại vì học phí và chi phí sinh hoạt; khi những câu hỏi “sau này con muốn làm gì?” dần biến mất, nhường chỗ cho câu hỏi thực tế hơn: “làm gì để sống qua ngày?”. Những lựa chọn ấy không xuất phát từ sự lười biếng hay thiếu ý chí, mà từ một thực tế buộc con người phải ưu tiên tồn tại trước khi nghĩ đến tương lai.
Điều đáng lo không chỉ nằm ở hoàn cảnh của từng đứa trẻ, mà ở chỗ xã hội dần coi điều đó là bình thường. Chúng ta quen với hình ảnh trẻ em lao động sớm, quen với những câu nói kiểu “nghèo thì phải chịu”, “học nhiều cũng để làm gì”. Sự quen thuộc ấy nguy hiểm, bởi nó khiến bất công trở thành điều hiển nhiên, khiến việc từ bỏ ước mơ không còn bị xem là một mất mát, mà là một “sự lựa chọn khôn ngoan”.
Nhưng trẻ em không tự chọn nơi mình sinh ra, cũng không tự quyết định mức độ khắc nghiệt của cuộc sống mà các em phải đối diện. Vì thế, khi một đứa trẻ buộc phải “ăn” chính giấc mơ của mình để tồn tại, đó không phải là thất bại của đứa trẻ ấy. Đó là thất bại của người lớn – những người có trách nhiệm tạo dựng một xã hội đủ nhân ái để trẻ em không bị đặt vào những lựa chọn tàn nhẫn như vậy.
Ảnh: phailamgi
Người lớn có thể viện dẫn thực tế, có thể nói về sự khắc nghiệt của đời sống, nhưng không thể dùng thực tế ấy để biện minh cho sự thờ ơ. Mỗi lần chúng ta khuyên trẻ em “đừng mơ mộng nhiều”, có thể chúng ta nghĩ mình đang dạy các em sống thực tế hơn. Nhưng cũng có thể, chúng ta đang vô tình dạy các em cách từ bỏ, cách chấp nhận một giới hạn mà lẽ ra xã hội phải cùng nhau vượt qua.
Hậu quả của việc này không chỉ dừng lại ở số phận của từng cá nhân. Một xã hội nơi trẻ em lớn lên mà không dám mơ ước sẽ là một xã hội thiếu đi những con người có khát vọng thay đổi, thiếu những ý tưởng mới và cả lòng can đảm để cải thiện điều chưa tốt. Xã hội ấy có thể có đủ người lao động, nhưng lại thiếu những con người sống với lý tưởng và trách nhiệm sâu xa với cộng đồng.
“Sợ một ngày thực tế quá đói khát, bọn trẻ sẽ phải ăn luôn cả những giấc mơ…” không chỉ là một lời than thở, mà là một lời cảnh tỉnh. Nó nhắc chúng ta rằng giấc mơ không phải là thứ xa xỉ dành cho kẻ giàu có, mà là quyền căn bản của mọi đứa trẻ. Giấc mơ không thể thay thế cơm áo, nhưng nếu không còn giấc mơ, con người sẽ khó sống một cuộc đời trọn vẹn.
Điều đáng sợ nhất không phải là trẻ em mơ mộng quá nhiều, mà là chúng học được cách từ bỏ quá sớm. Và nếu một ngày nào đó, thực tế thật sự trở nên đói khát đến mức giấc mơ cũng phải trở thành lương thực, thì khi ấy, người lớn không thể nói rằng mình không liên quan.
Phải Làm Gì?
Docat: 102 Có thể thực hành liên đới ra sao?
Liên đới là một nguyên tắc xã hội và là một đức tính luân lý (Tóm lược Học thuyết Xã hội, 193). Với tính cách là một nguyên tắc xã hội, nó giúp khắc phục “các cấu trúc tội lỗi” (SRS 36), giúp tạo ra một “nền văn minh tình yêu” và do đó là nền văn minh của tình liên đới. Với tính cách là một đức tính luân lý, liên đới có nghĩa là chủ tâm hỗ trợ mọi người một cách thực tế để họ được sống tốt đẹp. Những từ mơ hồ về lòng thương cảm chẳng giúp được ai, vì thế chúng ta phải hành động! “Nguyên tắc liên đới đòi hỏi người thời nay đào luyện tâm trí để nhận thức rõ hơn họ là những kẻ mắc nợ xã hội mà trong đó họ là một thành phần” (Tóm lược Học thuyết Xã hội, 195). Nếu tự mỗi người, khó có thể làm nên chuyện lớn; thay vào đó người ta dựa vào những gì người khác đã hoàn thành, bao gồm cả những bậc tổ tiên của mình. Như vậy, chúng ta cần phải có mặt vì những người khác nữa, và cần phải tính đến cả các thế hệ tương lai trong mọi hành động và quyết định của mình.
