Sau mười lăm năm lưu lạc xứ người, Khổng tử, lúc này đã về già, được môn đệ của mình là Nhiễm Cầu xin với tể tướng nước Lỗ là Quý Khang cho thầy mình về lại quê nhà. Thế rồi, Khổng tử dành những năm tháng còn lại cuối đời để san định Ngũ kinh. Gần như cùng lúc, ở một nơi khác bên bờ đông Địa Trung Hải, Ezra, một kinh sư của người Do Thái, cũng vừa san định xong Ngũ kinh và trên đường đem bộ kinh này về lại Ioudaia, sau hơn 50 năm lưu đày ở Babylon.
Các "thầy đồ" chầu Mình thánh trong ngày hội Thư Pháp Việt Công Giáo 2023, tại giáo xứ Thánh Tịnh. Ảnh TGP. Sài Gòn
Hai ngàn năm trăm năm kế tiếp, hai bộ kinh sách này, một ở trời Đông, một ở trời Tây, chia hai thiên hạ. Thế rồi, bằng cách nào nó, cả hai tìm thấy điểm hội tụ ở một nhóm người mà có lẽ chính cả Khổng tử và Ezra cũng không thể nào hình dung ra được.
Tôi nhận ra điều này khi nhớ lại thời còn ở trọ đi học ở nhà bà Bắc ở Hàm Tân. Không biết bà tên thật là gì, chỉ biết gia đình bà là người bắc Công giáo di cư. Mẹ tôi lúc mới di cư từ Quảng Trị vào nam có thời gian xuống làm mướn cho gia đình bà rồi nhiều năm sau đem tôi về xin ở trọ. Mẹ biểu tôi cứ gọi bà là “bà Bắc”. Tôi để ý thấy ở trong cách nói chuyện của ông bà Bắc có rất nhiều từ ngữ Nho giáo, loại từ ngữ mà tôi ít khi nghe ở người xứ tôi, như làm người thì phải tam tòng tứ đức, phải nhân nghĩa lễ trí tín các loại. Ông Bắc có cái roi mây gác trên mái nhà. Mỗi khi mấy anh con ông đi nhậu về khuya, ông rút cái roi mây bắt họ nằm bệt lên sàn và quất. Với tôi lối phạt này cũng rất “Nho giáo”.
Sang bên này thỉnh thoảng tôi cũng gặp lại hiện tượng này. Có lần, trong một cuộc họp mặt cộng đồng, tôi suýt lớn tiếng với anh K., cũng là người Công giáo di cư, khi anh nói, người Việt Nam mình gì thì gì thì vẫn phải giữ cái gốc Nho giáo. Đọc sách của linh mục Kim Định tôi thấy ông mơn trớn dân tộc chủ nghĩa quá đáng. Tôi nghĩ, giới trí thức Công giáo mấy trăm năm qua bị chê bai là người ngoài nên cố bám vào chủ nghĩa dân tộc cũng là chuyện hiểu được. Thôi kệ. Thế là tôi gom anh K. và bà Bắc vào với Kim Định, rồi mọi chuyện bẵng đi.
Tôi nhận ra điều này khi nhớ lại thời còn ở trọ đi học ở nhà bà Bắc ở Hàm Tân. Không biết bà tên thật là gì, chỉ biết gia đình bà là người bắc Công giáo di cư. Mẹ tôi lúc mới di cư từ Quảng Trị vào nam có thời gian xuống làm mướn cho gia đình bà rồi nhiều năm sau đem tôi về xin ở trọ. Mẹ biểu tôi cứ gọi bà là “bà Bắc”. Tôi để ý thấy ở trong cách nói chuyện của ông bà Bắc có rất nhiều từ ngữ Nho giáo, loại từ ngữ mà tôi ít khi nghe ở người xứ tôi, như làm người thì phải tam tòng tứ đức, phải nhân nghĩa lễ trí tín các loại. Ông Bắc có cái roi mây gác trên mái nhà. Mỗi khi mấy anh con ông đi nhậu về khuya, ông rút cái roi mây bắt họ nằm bệt lên sàn và quất. Với tôi lối phạt này cũng rất “Nho giáo”.
Sang bên này thỉnh thoảng tôi cũng gặp lại hiện tượng này. Có lần, trong một cuộc họp mặt cộng đồng, tôi suýt lớn tiếng với anh K., cũng là người Công giáo di cư, khi anh nói, người Việt Nam mình gì thì gì thì vẫn phải giữ cái gốc Nho giáo. Đọc sách của linh mục Kim Định tôi thấy ông mơn trớn dân tộc chủ nghĩa quá đáng. Tôi nghĩ, giới trí thức Công giáo mấy trăm năm qua bị chê bai là người ngoài nên cố bám vào chủ nghĩa dân tộc cũng là chuyện hiểu được. Thôi kệ. Thế là tôi gom anh K. và bà Bắc vào với Kim Định, rồi mọi chuyện bẵng đi.
Ảnh: TGP. Sài Gòn
Bằng cách nào đó, tôi cũng mường tượng ra rằng, là một người đi ra từ cái gốc Á Đông, nếu bạn đào bới kinh sách và tín ngưỡng Ki-tô giáo thì sớm hay muộn bạn cũng phải đụng đầu lại với Nho giáo. Tôi không nhớ là khi đọc Nho giáo lần đầu ở tuổi hai mươi, lúc đó tôi vẫn chưa được rửa tội, tôi tìm cái gì, chỉ nhớ là cứ phải nhắc nhở mình kiên nhẫn đọc, kiên nhẫn đọc. Lật lại hai cuốn Nho giáo của Trần Trọng Kim, do Trung tâm Học liệu xuất bản năm 1971, chắc là tôi mua lại đâu đó ở các tiệm bán sách cũ ở Sài Gòn trước khi đi Mỹ, tôi thấy mình có đánh dấu ở chương về Chu Hi và Vương Dương Minh, có lẽ là để nhắc mình về sau có gì thì tìm lại hai vị này, kiểu như ngày xưa đi rừng thường lấy cái rựa chặt vào thân cây để nhắc mình tìm đường về lại vậy. Thế rồi, tôi đi luôn, hơn ba mươi năm sau mới quay lại.
Ngẫm nghĩ rồi giật mình: có phải tôi đã chờ đến năm mươi tuổi, “ngũ thập nhi tri thiên mệnh”, mới đọc lại về một người đã tiên đoán chuyện này hơn 2500 năm trước không? Thật ra, ở cái thời đại mà tuổi thọ trung bình của con người dưới bốn mươi, năm mươi là một sự hứa hẹn quá lớn, lớn hơn cả sự hứa hẹn của việc sẽ “tri” được cái gì. Nhưng có điều này, cũng vừa mới đi ngang qua đầu tôi thời gian lại đây thôi: Đọc Nho giáo ở tuổi này, có lẽ khi không còn tìm kiếm điều gì cấp bách nữa, tôi nhận ra cái không thể nào nhận ra ở tuổi hai mươi, rằng hành trình từ Nho giáo đến đức tin Ki-tô giáo đáng lẽ ra, và có thể đã xảy ra, là một hành trình tự nhiên. Khoan nói đến hệ thống luân lý, điều mà bất cứ sự tương đồng nào cũng không hề làm ngạc nhiên – mà thật ra cũng không phải là điều gì ghê gớm lắm, cái nhân học của Nho giáo, nghĩa là ý niệm về con người, và quan hệ giữa con người với đấng sáng tạo, rất gần với nhân học Ki-tô giáo.
Ngày Hội thư Pháp 2023. Ảnh: TGP. Sài Gòn
Tôi viết ở những bài trước, rằng cái sở đoản, và từ đó cái bế tắc, ở các hệ thống triết học và luân lý bắt nguồn từ Khai sáng là ở sự sai lạc trong ý niệm về con người. Có khi, việc tôi trở lại với Nho giáo cũng là một thứ “mệnh”: cái mệnh đi tìm những nơi có chung một ý niệm về con người. Sự hội tụ của hai bộ ngũ kinh được san định cùng thời 2500 năm trước, với tôi, có khi lại là một thứ “mệnh”. Tôi cũng viết trong những bài trước, rằng Ki-tô giáo đi trên đôi chân Hy Lạp và Do Thái, và ở phương đông có thêm cây gậy Đông học. Nói “Đông học” nhưng thật ra là Nho giáo, chỉ cộng thêm Trang tử và Mặc tử. Cây gậy Đông học cung cấp vốn liếng ngôn ngữ, và như vừa nói ở trên, những “viên gạch” làm nền khác để tiếp cận Ki-tô giáo: nhân học.
Ba thế kỷ trước, linh mục Dòng Tên Joachim Bouvet đã nhận ra điều này và ông viết một cuốn sách chữ Hán có tựa đề Cổ kim kính thiên giám, liệt kê những câu ông lấy ra từ trong kho tàng kinh điển Đông học mà người Ki-tô giáo có thể cảm nhận như chúng đi ra từ kinh sách của họ. Bên cạnh những câu như “Thượng đế ban lòng thành cho dân” hay “Trời sinh ra dân” còn có những câu có thể làm những người quen thuộc với truyền thống Do Thái-Cứu thế giật mình: 中正以應天. Trung chính dĩ ứng Thiên. Hai chữ “trung chính” 中正 đó rất gần với δικαιοσύνη (dikaiosune) của Tân Ước (mà các bản Tân Ước tiếng Việt dịch là “công chính” và bản Tân Ước của Tủ sách J.H. Newman dịch là “tín nghĩa”.) Cuộc xung đột Trung Quốc lễ nghi chi tranh, mà tôi đã có dịp nhắc đến trong những bài trước, làm gián đoạn cố gắng này của các tu sĩ Dòng Tên và các trước tác của họ chìm vào quên lãng.
Tôi thì nghĩ, giáo hội rồi cũng sẽ đối xử công bằng với truyền thống Đông học theo cùng cách giáo hội từng đối xử với truyền thống Hy Lạp. Chưa đầy hai thế kỷ sau sự kiện Phục sinh, Tertullian, vị giáo phụ của Ki-tô giáo Latin, và là một trong những vị giáo phụ đầu tiên của giáo hội, hỏi vặn rằng, Athen thì liên quan gì đến Jerusalem (ý là, triết học Hy Lạp không liên quan đến đức tin Ki-tô giáo.) Các vị giáo phụ thế hệ sau chứng minh rằng Tertullian đã sai; Ki-tô giáo đi trên đôi chân Athen và Jerusalem. Ba trăm năm kể từ thời đại của linh mục Bouvet cho đến lúc này, câu hỏi Đông học thì liên quan gì đến đức tin Ki-tô giáo vẫn còn bỏ ngỏ.
