- Chủ đề Author
- #1
Đức cha Chabalier, Đại diện Tông tòa Nam Vang từ năm 1937 đến 1955, chính là vị bề trên hợp pháp của cha Fx. Trương Bửu Diệp, một vị mục tử tận tụy, nghèo khó, can đảm, hoàn toàn quên mình vì tha nhân.
Đức giám mục J.B. Chabalier, Đại diện Tông tòa Nam Vang 1938 - 1955
Vài hàng tiểu sử
Đức Giám mục J.B Chabalier sinh ngày 27 tháng 9 năm 1887 tại Cheylard-l'Évêque, thuộc giáo phận Mende, nước Pháp.
Sinh ra trong một gia đình không mấy khá giả, sống bằng nghề nông, cuộc sống nghèo trong một gia đình đạo hạnh đã rèn rũa ngài trở thành một chủng sinh mẫu mực.
Ngày 13/9/1907, ngài gia nhập Hội Thừa sai Paris (Missions Étrangères de Paris - MEP) và được thụ phong linh mục ngày 28/6/1913.
Ngày 10/12/1913, tân linh mục xung phong qua miền truyền giáo Cam Bốt (Campuchia). Năm 1914, ngài học tiếng Khmer tại Battambang và phục vụ một thời gian tại họ đạo Ta Om.
Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, vào tháng 12 năm 1914, ngài được bổ nhiệm phụ trách một cộng đoàn Công giáo người Khmer tại Bãi Giá, giáo phận Cần Thơ ngày nay. Thời gian này, ngài thường xuyên đi thăm các cộng đoàn trong các địa hạt Sóc Trăng và Rạch Giá, đồng thời đảm nhận việc thay thế các linh mục vắng mặt.
Tháng 1/1921, ngài được bổ nhiệm làm giáo sư Đại Chủng viện Phnom Penh và trở thành Giám đốc Đại Chủng viện năm 1929.
Ngày 2/12/1937, ngài được Đức Piô XI bổ nhiệm làm Đại diện Tông Tòa Nam Vang và được phong chức giám mục ngày 24/2/1938 tại nhà thờ Russey Keo, Cam Bốt.
Sinh ra trong một gia đình không mấy khá giả, sống bằng nghề nông, cuộc sống nghèo trong một gia đình đạo hạnh đã rèn rũa ngài trở thành một chủng sinh mẫu mực.
Ngày 13/9/1907, ngài gia nhập Hội Thừa sai Paris (Missions Étrangères de Paris - MEP) và được thụ phong linh mục ngày 28/6/1913.
Ngày 10/12/1913, tân linh mục xung phong qua miền truyền giáo Cam Bốt (Campuchia). Năm 1914, ngài học tiếng Khmer tại Battambang và phục vụ một thời gian tại họ đạo Ta Om.
Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, vào tháng 12 năm 1914, ngài được bổ nhiệm phụ trách một cộng đoàn Công giáo người Khmer tại Bãi Giá, giáo phận Cần Thơ ngày nay. Thời gian này, ngài thường xuyên đi thăm các cộng đoàn trong các địa hạt Sóc Trăng và Rạch Giá, đồng thời đảm nhận việc thay thế các linh mục vắng mặt.
Tháng 1/1921, ngài được bổ nhiệm làm giáo sư Đại Chủng viện Phnom Penh và trở thành Giám đốc Đại Chủng viện năm 1929.
Ngày 2/12/1937, ngài được Đức Piô XI bổ nhiệm làm Đại diện Tông Tòa Nam Vang và được phong chức giám mục ngày 24/2/1938 tại nhà thờ Russey Keo, Cam Bốt.
Nhà thờ chính tòa Nam Vang - công trình do giám mục J.B. Chabalier đặt viên đá đầu tiên
Can đảm và tận tụy trong thời chiến
Địa phân Nam Vang nơi ngài quản nhiệm, vào lúc đó, là một địa phận rộng lớn bao gồm Cam Bốt và các tỉnh miền Tây Nam Bộ, trong đó có giáo phận Cần Thơ ngày nay.
Không những thế, suốt thời gian ngài tại nhiệm (1938 – 1955), Đông Dương nói chung và địa phận Nam Vang phải hứng chịu liên tiếp 2 cuộc chiến: chiến tranh thế giới thứ II và chiến tranh Đông Dương lần I.
Trong tư cách là mục tử, ngài phải đối diện với nhiều khó khăn, đặc biệt sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, cùng với các thừa sai Pháp, ngài bị bắt, bị quản chế, Tòa Giám mục bị trưng dụng làm nơi tiếp đón người di tản, chủng viện bị đóng cửa, nhưng đây được coi là thời kỳ vẫn còn yên ổn đối với địa phận của ngài.
Trong một báo cáo hàng năm gửi về nhà Mẹ ở Paris, ngài cho biết, sau khi Nhật đầu hàng, người Anh tới giải giới Nhật, kể từ tháng 9/1945, vùng đất Nam Kỳ thuộc địa phận của ngài "bắt đầu bước vào chặng đường thập giá".
Trong 2 tháng 4 và tháng 9 năm 1946, bất chấp những đe dọa tới tính mạng, trong tư ccahs mục tử, không muốn để con chiên bơ vơ, ngài đã tới Nam Kỳ kinh lược và đi thăm nhiều xứ đạo. Sau đó, ngài kể lại những gì xảy ra tại Nam Kỳ mà chính ngài đã thấy và nghe trong 2 chuyến kinh lược này. Ngài viết:
"Sự yên ổn tương đối trong tháng 7/1945 đã khiến chúng tôi hy vọng đời sống tôn giáo có thể trở lại bình thường; các nhà chức trách An Nam cũng tỏ ra có phần thiện chí. Cha Raballand, bề trên tiểu chủng viện, vì thế đã triệu tập các chủng sinh trở lại vào ngày 15 tháng 8. Nhưng kỳ tĩnh tâm vừa kết thúc thì các biến cố dồn dập xảy đến. Thật vậy, ngày 20 tháng 8, cơ sở bị Việt Minh tràn vào và trưng dụng khắp nơi. Các anh em của chúng tôi trước hết bị đưa đến Long Xuyên, rồi đến Châu Đốc, nơi họ phải chịu những nhục hình và xúc phạm tồi tệ nhất. Vài ngày sau, theo lệnh Đồng minh, người Nhật đưa tất cả các vị về nhà xứ Cần Thơ, nơi họ bị canh giữ cho đến khi thành phố được quân Pháp giải phóng ngày 29 tháng 10 năm 1945.
Việc các tù khổ sai từ Côn Đảo kéo đến vào đầu tháng 9 đã đẩy tình trạng hỗn loạn và man rợ lên đến cực điểm. Ngày 21 tháng 11 năm 1945, Việt Minh đốt ba nhà kho của tu viện, nhà xứ, các trường học của giáo xứ, rồi cuối cùng là chủng viện; chỉ nhà nguyện là không bị thiêu rụi, nhưng bị tàn phá: các băng ghế và bàn thờ bằng gỗ đều bị đốt cháy, may mắn thay ngọn lửa không lan đến mái vòm. Trong tất cả những công trình ấy, giờ chỉ còn lại những bức tường: mọi thứ đều mất sạch — đồ đạc, lương thực, nông trại với rất nhiều gia súc. Tôi từng có ý định lợp lại những đống đổ nát ấy để biến chúng thành nơi có thể ở được, nhưng Việt Minh báo cho tôi biết rằng nếu tôi tìm cách sửa chữa, họ sẽ phá hủy một lần nữa. Còn tu viện của các nữ tu, họ chọn cướp bóc thay vì phóng hỏa; họ mang đi tất cả những gì có thể lấy được: ván sàn, ngăn kéo tủ, nói tắt là mọi thứ có thể dùng được. Các nữ tu Pháp bị đưa đi làm con tin từ nơi này sang nơi khác; sau cùng, một chiến hạm nhỏ của hải quân Pháp đã giải thoát các chị sau hai tháng bị giam cầm và đưa các chị trở lại Phnom Penh. Các nữ tu người An Nam cùng rất nhiều trẻ mồ côi của các chị, ban đầu bị phân tán, sau đó được một tàu hải quân đón nhận và tạo điều kiện trở về Phnom Penh; tuy nhiên, việc tìm nơi cư trú cho họ vẫn là một vấn đề rất khó giải quyết vì số người quá đông."
Không những thế, suốt thời gian ngài tại nhiệm (1938 – 1955), Đông Dương nói chung và địa phận Nam Vang phải hứng chịu liên tiếp 2 cuộc chiến: chiến tranh thế giới thứ II và chiến tranh Đông Dương lần I.
Trong tư cách là mục tử, ngài phải đối diện với nhiều khó khăn, đặc biệt sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, cùng với các thừa sai Pháp, ngài bị bắt, bị quản chế, Tòa Giám mục bị trưng dụng làm nơi tiếp đón người di tản, chủng viện bị đóng cửa, nhưng đây được coi là thời kỳ vẫn còn yên ổn đối với địa phận của ngài.
Trong một báo cáo hàng năm gửi về nhà Mẹ ở Paris, ngài cho biết, sau khi Nhật đầu hàng, người Anh tới giải giới Nhật, kể từ tháng 9/1945, vùng đất Nam Kỳ thuộc địa phận của ngài "bắt đầu bước vào chặng đường thập giá".
Trong 2 tháng 4 và tháng 9 năm 1946, bất chấp những đe dọa tới tính mạng, trong tư ccahs mục tử, không muốn để con chiên bơ vơ, ngài đã tới Nam Kỳ kinh lược và đi thăm nhiều xứ đạo. Sau đó, ngài kể lại những gì xảy ra tại Nam Kỳ mà chính ngài đã thấy và nghe trong 2 chuyến kinh lược này. Ngài viết:
"Sự yên ổn tương đối trong tháng 7/1945 đã khiến chúng tôi hy vọng đời sống tôn giáo có thể trở lại bình thường; các nhà chức trách An Nam cũng tỏ ra có phần thiện chí. Cha Raballand, bề trên tiểu chủng viện, vì thế đã triệu tập các chủng sinh trở lại vào ngày 15 tháng 8. Nhưng kỳ tĩnh tâm vừa kết thúc thì các biến cố dồn dập xảy đến. Thật vậy, ngày 20 tháng 8, cơ sở bị Việt Minh tràn vào và trưng dụng khắp nơi. Các anh em của chúng tôi trước hết bị đưa đến Long Xuyên, rồi đến Châu Đốc, nơi họ phải chịu những nhục hình và xúc phạm tồi tệ nhất. Vài ngày sau, theo lệnh Đồng minh, người Nhật đưa tất cả các vị về nhà xứ Cần Thơ, nơi họ bị canh giữ cho đến khi thành phố được quân Pháp giải phóng ngày 29 tháng 10 năm 1945.
Việc các tù khổ sai từ Côn Đảo kéo đến vào đầu tháng 9 đã đẩy tình trạng hỗn loạn và man rợ lên đến cực điểm. Ngày 21 tháng 11 năm 1945, Việt Minh đốt ba nhà kho của tu viện, nhà xứ, các trường học của giáo xứ, rồi cuối cùng là chủng viện; chỉ nhà nguyện là không bị thiêu rụi, nhưng bị tàn phá: các băng ghế và bàn thờ bằng gỗ đều bị đốt cháy, may mắn thay ngọn lửa không lan đến mái vòm. Trong tất cả những công trình ấy, giờ chỉ còn lại những bức tường: mọi thứ đều mất sạch — đồ đạc, lương thực, nông trại với rất nhiều gia súc. Tôi từng có ý định lợp lại những đống đổ nát ấy để biến chúng thành nơi có thể ở được, nhưng Việt Minh báo cho tôi biết rằng nếu tôi tìm cách sửa chữa, họ sẽ phá hủy một lần nữa. Còn tu viện của các nữ tu, họ chọn cướp bóc thay vì phóng hỏa; họ mang đi tất cả những gì có thể lấy được: ván sàn, ngăn kéo tủ, nói tắt là mọi thứ có thể dùng được. Các nữ tu Pháp bị đưa đi làm con tin từ nơi này sang nơi khác; sau cùng, một chiến hạm nhỏ của hải quân Pháp đã giải thoát các chị sau hai tháng bị giam cầm và đưa các chị trở lại Phnom Penh. Các nữ tu người An Nam cùng rất nhiều trẻ mồ côi của các chị, ban đầu bị phân tán, sau đó được một tàu hải quân đón nhận và tạo điều kiện trở về Phnom Penh; tuy nhiên, việc tìm nơi cư trú cho họ vẫn là một vấn đề rất khó giải quyết vì số người quá đông."
Cái chết của cha Diệp
Trong bản báo cáo, ngài cũng nói về cái chết của cha Diệp, nhưng chỉ nêu sự kiện vì ngài không trực tiếp chứng kiến. Ngài viết:
"Trong các tháng 4 và 9 năm 1946, nhờ thiện chí của các tài xế xe tải quân sự, vị Đại diện Tông tòa đã có thể đi thăm nhiều tỉnh lỵ tại Nam Kỳ. Tại đó, ngài nhận thấy tất cả các công trình hành chính, tất cả nhà cửa của người Pháp đều đã bị thiêu rụi. Bệnh viện, trường học, ngay cả các tháp nước, chẳng có gì được những kẻ tự xưng là ‘những người bạn của nhân dân’ ấy tha cho; chính họ lại đẩy dân chúng vào cảnh khốn cùng ghê rợn nhất. Cần Thơ ít bị thiệt hại hơn, vì việc quân Pháp chiếm lại thành phố diễn ra bất ngờ và đột ngột. Trong các tháng 3 và 4 năm 1946, các vụ ám sát gia tăng đến mức kinh hoàng. Tôi đã nhắc đến vụ sát hại cha David. Ngày 6 tháng 3, hai nữ tu Pháp của bệnh viện Bạc Liêu bị đưa về vùng Cà Mau và bị tàn sát cùng tám phụ nữ khác và khoảng sáu mươi người đàn ông. Ngày 12 tháng 3, cha Diệp, một linh mục người An Nam, bị xử tử vì ngài ở lại với các Kitô hữu của mình. Chiếc xe tải quân sự đưa một số nữ tu từ Sài Gòn về Cần Thơ đã cán phải mìn; một nữ tu Pháp tử nạn tại chỗ, một chị khác bị dập nát cả hai bàn chân. Trong chuyến kinh lý tháng 4 của tôi, ở mỗi chặng dừng, tôi lại nghe tin một vài nhân sĩ trong các cộng đoàn Kitô hữu của chúng tôi bị sát hại. Từ đó, các vụ ám sát tiếp tục gia tăng; sẽ chẳng bao giờ biết được con số nạn nhân là bao nhiêu."
"Trong các tháng 4 và 9 năm 1946, nhờ thiện chí của các tài xế xe tải quân sự, vị Đại diện Tông tòa đã có thể đi thăm nhiều tỉnh lỵ tại Nam Kỳ. Tại đó, ngài nhận thấy tất cả các công trình hành chính, tất cả nhà cửa của người Pháp đều đã bị thiêu rụi. Bệnh viện, trường học, ngay cả các tháp nước, chẳng có gì được những kẻ tự xưng là ‘những người bạn của nhân dân’ ấy tha cho; chính họ lại đẩy dân chúng vào cảnh khốn cùng ghê rợn nhất. Cần Thơ ít bị thiệt hại hơn, vì việc quân Pháp chiếm lại thành phố diễn ra bất ngờ và đột ngột. Trong các tháng 3 và 4 năm 1946, các vụ ám sát gia tăng đến mức kinh hoàng. Tôi đã nhắc đến vụ sát hại cha David. Ngày 6 tháng 3, hai nữ tu Pháp của bệnh viện Bạc Liêu bị đưa về vùng Cà Mau và bị tàn sát cùng tám phụ nữ khác và khoảng sáu mươi người đàn ông. Ngày 12 tháng 3, cha Diệp, một linh mục người An Nam, bị xử tử vì ngài ở lại với các Kitô hữu của mình. Chiếc xe tải quân sự đưa một số nữ tu từ Sài Gòn về Cần Thơ đã cán phải mìn; một nữ tu Pháp tử nạn tại chỗ, một chị khác bị dập nát cả hai bàn chân. Trong chuyến kinh lý tháng 4 của tôi, ở mỗi chặng dừng, tôi lại nghe tin một vài nhân sĩ trong các cộng đoàn Kitô hữu của chúng tôi bị sát hại. Từ đó, các vụ ám sát tiếp tục gia tăng; sẽ chẳng bao giờ biết được con số nạn nhân là bao nhiêu."
Những ngày cuối đời
Vất vả, lao nhọc, căng thẳng khi phải đối diện với những năm dài chiến tranh, cùng với nỗ lực không biết mệt mỏi để tái thiết và xây mới các công trình mục vụ, như chủng viện, nhà thờ chính tòa, cũng như ổn định đời sống của cư dân, đã làm cho sức khỏe của đức cha J.B. Chabalier kiệt quệ.
Mùa chay năm 1955, sau những ngày cử hành nghi thức Tuần thánh, kèm theo những lần ban bí tích Thêm sức, ngài ngã bệnh và được đưa sang Sài Gòn chữa trị, nhưng không khỏi.
Ngày 11/6/1955, ngài thanh thản ra đi, sau khi đã nhận lãnh các bí tích sau cùng, thọ 68 tuổi, để lại một di sản thiêng liêng to lớn là gương sáng tử đạo của Chân phước Fx. Trương Bửu Diệp.
Mùa chay năm 1955, sau những ngày cử hành nghi thức Tuần thánh, kèm theo những lần ban bí tích Thêm sức, ngài ngã bệnh và được đưa sang Sài Gòn chữa trị, nhưng không khỏi.
Ngày 11/6/1955, ngài thanh thản ra đi, sau khi đã nhận lãnh các bí tích sau cùng, thọ 68 tuổi, để lại một di sản thiêng liêng to lớn là gương sáng tử đạo của Chân phước Fx. Trương Bửu Diệp.
