Lòng sùng tín và Học thuyết xã hội Công giáo

5.00 star(s) 1 Vote
  • Chủ đề Author

Cái nốt ngắn trên Facebook của một vị linh mục đánh động sự chú ý của tôi. Ông viết, chỉ một dòng, “[n]hững bài hát, bài kinh mang tính rên rỉ, năn nỉ ỉ ôi, theo tôi, nên dẹp bỏ!” Chuyện “bài hát” thì dịp khác, khi bàn về nhạc thánh hiến Công giáo, tôi sẽ góp phần ý kiến của mình. Bài viết này chỉ xin nói đến “bài kinh”, và ở đây là bộ kinh nguyện Công giáo tiếng Việt.​

Trong một bài viết khác trên diễn đàn này, cũng về đề tài này, bài “Kinh nguyện: mặt trời, hạnh phúc, và Augustine”, tôi có nói qua, là tân tòng, trưởng thành trong lòng giáo hội ở Mỹ, tôi không có cơ hội để học thuộc lòng kinh nguyện lúc còn nhỏ, số bài kinh nguyện tiếng Việt tôi biết đếm trên đầu ngón tay. Học hỏi kinh nguyện là một trong những việc đầu tiên tôi làm khi dò dẫm tìm đường về với giáo hội ở Việt Nam. Kinh nguyện tích lũy theo thời gian, và do đó chứa đựng trong nó những trầm tích lịch sử của đời sống sùng tín. Tôi nghĩ, cái “rên rỉ, năn nỉ, ỉ ôi”, nếu có, trong kinh nguyện mà vị linh mục đáng kính nhắc đến thuộc về những trầm tích đó. [Tôi nói “nếu có” vì tôi không thấy sự khóc than trong kinh nguyện tiếng Việt là “năn nỉ, ỉ ôi” mà thuộc về truyền thống khóc than bi hùng của lòng sùng tín Do Thái-Cứu thế tìm thấy trong Ai ca và ngay cả trong nhiều bài Nguyện ca (Thánh Vịnh) của Cựu Ước – nhưng đây là một đề tài khác cho một dịp khác.]​

phailamgi_Lòng sùng tín và Học thuyết xã hội Công giáo_cv1.jpg


Một trong những nhiệm vụ thần học và mục vụ tinh tế nhất trong bối cảnh của giáo hội ở Việt Nam hiện nay, tôi nghĩ, không phải là đưa vào những học thuyết mới, cũng không phải là điều chỉnh lại lòng sùng tín cũ – mà vị linh mục đáng quý của tôi viết tắt là “dẹp bỏ” đi, mà là một điều gì đó tế nhị hơn, và do đó khó khăn hơn: tái tự sự về lòng sùng tín dưới góc nhìn lịch sử. Những gì chúng ta cảm thấy là vượt thời gian, không thể thay đổi và mang tính "Công giáo" cốt lõi, thường lại chỉ là một chương trong một cuốn sách dày hơn. Nhận ra điều này không phải là làm suy yếu đức tin, mà là làm sâu sắc thêm đức tin ấy.

Đời sống sùng tín của người Công giáo ở Việt Nam, thể hiện qua kinh nguyện, rất phong phú, giàu cảm xúc và kiên cường. Nó mang dấu ấn của lòng tin thác vào Đức Mẹ, sự tôn kính Thánh Thể, tinh thần sám hối nghiêm cẩn, ký ức tử đạo, và một nhận thức tỉnh táo về sự hữu hạn của đời sống con người. Những yếu tố này đã bảo tồn đức tin qua các cuộc bách hại, những biến động thuộc địa, những hạn chế chính trị, và sự xáo trộn văn hóa. Đối với nhiều gia đình, những bài kinh và công thức học thuộc lòng đã dẫn dắt giáo hội đi qua những thời điểm mà chủng viện bị đóng cửa và giáo dục thần học bị hạn chế. Lòng sùng tín khi ấy chính là sự sống còn.

Chính vì thế, các hình thức sùng tín đã khoác lên mình một vầng hào quang thánh thiêng. Chúng tạo cảm giác vượt thời gian. Chúng khiến người ta cảm thấy như thể nó đơn giản là "cách của người Công giáo". Tuy nhiên, xét về mặt lịch sử, âm hưởng sùng tín quen thuộc nhất với người Công giáo ở Việt Nam hiện nay phản ánh những lớp trầm tích cụ thể của quá khứ – đặc biệt là linh đạo truyền giáo hậu-Công đồng Trent, cảm xúc mộ đạo thời Baroque, và ký ức cộng đoàn được định hình bởi sự bách hại kéo dài. Đây không phải là những biến dạng của Công giáo. Chúng là những chương xác thực trong lịch sử của Giáo hội. Nhưng chúng là những chương đơn lẻ, chứ không phải là toàn bộ cuốn sách. Tái tự sự về lòng sùng tín theo dòng lịch sử là nói lên sự thật về cách các hình thức này nảy sinh. Đó là khẳng định rằng: Giáo hội đã cầu nguyện theo cách này trong thời kỳ Giáo phụ, theo cách khác trong những thế kỷ trung đại, theo cách khác nữa trong thời kỳ Phản Cải cách, và lại khác đi sau Công đồng Vatican II. Chúa Thánh Thần đã không ngừng dẫn dắt giáo hội sau thế kỷ XVI. Những gì chúng ta cảm thấy là vượt thời gian, trên thực tế, lại mang tính trầm tích lịch sử.

phailamgi_Lòng sùng tín và Học thuyết xã hội Công giáo_cv2.jpg


Hãy xem xét cường độ sám hối của nhiều lời kinh quen thuộc: những lời thú tội lặp đi lặp lại về sự bất xứng, nỗi lo âu về những cái “chết tươi”, chết bất ngờ khi chưa kịp ăn năn, và nhận thức cao độ về lầm lạc cá nhân. Những đặc điểm âm hưởng này đã được khuếch đại mạnh mẽ ở châu Âu thời hậu kỳ Trung cổ và Baroque. Chúng phát triển trong bối cảnh bị đánh dấu bởi dịch bệnh, bất ổn xã hội và sự nhấn mạnh mục vụ vào việc chuẩn bị lãnh nhận các bí tích. Các nhà truyền giáo đã mang "âm giai" sùng tín đó đến châu Á. Khi Công giáo Việt Nam bén rễ, nó đã nảy mầm bên trong khuôn khổ âm hưởng này. Rồi các cuộc bách hại ập đến. Tử đạo làm sâu sắc thêm sự nghiêm cẩn, mài sắc lòng trung tín và củng cố tinh thần tỉnh thức. Lòng sùng tín trở thành ngôn ngữ của sự chịu đựng. Lòng sùng kính Đức Mẹ đan xen với nỗi đau thương của cộng đoàn. Việc tự hiến nơi Thánh Thể hòa quyện với ký ức về chứng tá bằng máu. Theo thời gian, những hình thức này dần mang lại cảm giác không chỉ là lịch sử mà là thiết yếu.

Tuy nhiên, nếu nhìn lại xa hơn, chúng ta thấy những thế giới âm hưởng khác trong cùng một truyền thống Công giáo. Giáo hội tiên khởi hát về sự soi sáng của bí tích rửa tội, về một Ki-tô học mang tầm vũ trụ, và về niềm hy vọng tin tưởng vào Phục sinh. Những bài giảng của các Giáo phụ đề cập đến sự bất công xã hội, bóc lột kinh tế và trách nhiệm dân sự bên cạnh sự thánh thiện cá nhân. Các nhà huyền học thời Trung cổ đã chiêm ngắm tình yêu Thiên Chúa không chỉ như sự phán xét mà còn như ngọn lửa biến đổi. Giáo hội chưa bao giờ là một bức tranh tâm linh đơn sắc. Nhận ra tính đa dạng này không phải là tương đối hóa lòng sùng tín, mà là đặt nó vào trong một dòng chảy liên tục và sống động. Vấn đề nảy sinh khi một sắc thái lịch sử cụ thể bị tuyệt đối hóa – khi một âm hưởng sùng tín nhất định bị đồng nhất với chính cốt lõi của đức tin Công giáo. Chính tại điểm này, sự phát triển sẽ bị cảm thấy như một sự phản bội.

Đối với công cuộc giới thiệu Học thuyết Xã hội Công giáo (HTXH) tại Việt Nam, nhận thức lịch sử này là tối quan trọng. HTXH không chỉ nảy sinh từ các lý thuyết chính trị hiện đại; nó lớn lên từ Kinh sách, từ suy tư của các Giáo phụ, từ sự tổng hợp của Thánh Thomas Aquinas và từ sự phát triển của Huấn quyền. Nó đòi hỏi một viễn tượng thần học có khả năng nối kết sự tự hiến nơi Thánh Thể với trách nhiệm xã hội, lương tâm tử đạo với phẩm giá con người, tình liên đới trong Đức Mẹ với công ích. Nếu đời sống sùng tín tiếp tục được diễn giải chỉ thuần túy là nội tâm, sám hối và hướng tới sự sống còn, thì HTXH sẽ hiện lên như một điều gì đó xa lạ hoặc phụ thuộc. Nó có vẻ như một sự bổ sung từ bên ngoài – mang tính trí thức, chính trị, hay thậm chí là của phương Tây. Thái độ thờ ơ sẽ tự nhiên đi theo khi viễn tượng tâm linh và học thuyết xã hội không được kết nối một cách hữu cơ.

phailamgi_Lòng sùng tín và Học thuyết xã hội Công giáo_1.jpg


Nhưng nếu lòng lòng sùng tín được tái tự sự về mặt lịch sử, điều gì đó sẽ thay đổi. Khi chúng ta nói: “âm hưởng sám hối của chúng ta phản ánh một chương truyền giáo thời Baroque,” chúng ta không hề hạ thấp nó. Chúng ta đang đặt nó vào đúng bối cảnh. Khi chúng ta nói: “linh đạo tử đạo của chúng ta được hình thành dưới sự bách hại,” chúng ta tôn vinh chiều sâu của nó. Và khi chúng ta thêm rằng: “chính truyền thống đó cũng bao gồm những giáo huấn mạnh mẽ về phẩm giá con người và cấu trúc của công ích,” chúng ta đang mở rộng nhãn giới.

Việc tái tự sự mang lại ba điều cho HTXH:

Thứ nhất, nó ngăn chặn việc thần thánh hóa các hình thức sùng tín. Các hình thức sùng tín là quý giá, nhưng chúng không phải là những hóa thạch không thể chạm tới. Chúng là những biểu hiện sống động trong một giáo hội đang phát triển. Một khi mọi người hiểu rằng âm hưởng và phong cách đã chuyển dịch qua nhiều thế kỷ mà không phá hủy đức tin thì khả năng của sự trưởng thành sẽ trở nên ít đe dọa hơn.

Thứ hai, nó mở rộng viễn tượng. Người Công giáo Việt Nam đã sống những đức hạnh mà HTXH diễn đạt: tình liên đới trong những lúc gian khó, sự tôn trọng lương tâm qua ký ức về các vị tử đạo, tình yêu hy tế được định hình bởi lòng sùng kính Thánh Thể. Người giáo dân đã có sẵn chất liệu đạo đức; điều có thể còn thiếu là sự diễn đạt mang tính khái niệm. Tự sự lịch sử tiết lộ rằng HTXH không phải là một sự xa rời lòng sùng tín, mà là sự phát triển những nội hàm tiềm ẩn của chính lòng sùng tín đó.

Thứ ba, nó giải phóng lòng sùng tín để lớn mạnh. Khi chúng ta tách bóc các lớp trầm tích lịch sử, chúng ta khám phá ra rằng mỗi thời đại đều nhấn mạnh vào một số khía cạnh nhất định trong khi để lại những khía cạnh khác chưa được phát triển đúng mức. Trách nhiệm hiện tại không phải là xóa bỏ sự nghiêm cẩn sám hối hay lòng tin cậy vào Đức Mẹ, mà là tích hợp chúng với ý thức xã hội và trách nhiệm mang tính cấu trúc. Sự phát triển trở thành một hành vi trung thành, chứ không phải là sự đoạn tuyệt.

Công việc này đòi hỏi sự dũng cảm vì nó chạm đến căn tính. Đối với một cộng đoàn được định hình dưới sự bách hại kéo dài, sự liên tục trong đời sống sùng tín biểu tưởng hóa sự sống còn. Bất kỳ gợi ý nào cho rằng các hình thức này mang tính điều kiện lịch sử đều có thể bị hiểu lầm là sự chỉ trích. Do đó, việc tái tự sự phải được thực hiện một cách tinh tế, xác quyết, và tôn trọng sâu sắc. Nó phải bắt đầu bằng lòng biết ơn, “điều này đã nuôi dưỡng chúng ta.” Chỉ sau đó, nó mới có thể tiếp tục: “Thánh Thần hiện đang mời gọi chúng ta đi xa hơn nữa.”

phailamgi_Lòng sùng tín và Học thuyết xã hội Công giáo_2.jpg


Vấn đề cốt lõi là: tính vượt thời gian thường là ký ức được cô đặc lại. Những gì chúng ta cảm thấy là vĩnh cửu thường là kết quả của sự lặp lại qua nhiều thế hệ. Nhưng sự lặp lại không xóa nhòa nguồn gốc lịch sử. Kinh Ăn năn tội (Confiteor), Kinh Vực Sâu (De Profundis), các lời kinh cầu cho người hấp hối – mỗi lời kinh đều nảy sinh trong những bối cảnh cụ thể. Sự đổi mới của Công đồng Vatican II về sự nhấn mạnh vào Kinh sách và cộng đoàn cũng thế. Cả hai đều thuộc về cùng một giáo hội. Khi lòng sùng tín được xem là một chương trong một câu chuyện dài hơn, HTXH có thể được giới thiệu không phải như một sự đổi mới mà là một sự tiếp nối. Lương tâm tử đạo trở thành hạt giống của phẩm giá con người. Việc hiến tế nơi Thánh Thể trở thành hình mẫu cho sự dấn thân dân sự. Tình liên đới trong Đức Mẹ trở thành nền tảng cho tình liên đới xã hội. Chiều dọc của đức tin mở ra một cách tự nhiên vào trách nhiệm chiều ngang xã hội.

Nếu không có việc tái tự sự lịch sử, những nỗ lực giới thiệu HTXH có nguy cơ gây ra những phản ứng phòng vệ (“bạn đang chính trị hóa đức tin”) hoặc sự thờ ơ (“đây không phải là một phần đời sống tâm linh của chúng tôi”). Với sự tái tự sự lịch sử, HTXH xuất hiện như sự mở ra của những gì đã luôn hiện diện nhưng chưa được diễn đạt đầy đủ. Giáo hội luôn phát triển bằng cách làm sâu sắc thêm những gì vốn có. Thời kỳ Giáo phụ không bãi bỏ đức tin tông truyền; nó giải thích đức tin ấy. Thời Trung cổ không phủ định thần học Giáo phụ; nó hệ thống hóa thần học ấy. Vatican II không khước từ truyền thống; nó khôi phục và tái cân bằng truyền thống. Tương tự như vậy, việc tích hợp HTXH đầy đủ hơn vào đời sống Công giáo ở Việt Nam sẽ không thay thế lòng sùng tín; nó sẽ giúp cho lòng sùng tín ấy lớn mạnh hơn.

Tách bóc các lớp trầm tích lịch sử, do đó, là một hành vi của hy vọng. Nó giả định rằng Chúa Thánh Thần, đấng đã dẫn dắt giáo hội vượt qua các cuộc bách hại, vẫn tiếp tục dẫn dắt giáo hội tiến tới một sự diễn đạt đầy đủ hơn. Nó tin tưởng rằng sự trung thành không đòi hỏi sự thụ động. Nó nhận ra rằng căn tính sẽ được củng cố, chứ không bị suy yếu, khi câu chuyện của nó được kể lại một cách chân thực. Tái tự sự về lòng sùng tín theo lịch sử là khôi phục lại câu chuyện lớn hơn của Giáo hội – một câu chuyện mà ở đó sự sám hối và ca tụng, tử đạo và sứ mệnh, Thánh Thể và trách nhiệm xã hội tất cả đều thuộc về nhau. Những gì chúng ta cảm thấy là vượt thời gian quả thực rất quý giá. Nhưng đó chỉ là một chương của một câu chuyện dài hơn đang mở ra. Thấy được câu chuyện dài hơn đó là khám phá ra rằng Học thuyết Xã hội Công giáo không phải là một sự xâm nhập vào tâm linh Việt Nam, mà chính là trang kế tiếp đang chờ được lật mở.

Lời cuối, tôi cám ơn vị linh mục đáng kính về một câu nói vắn tắt, mà tôi nghĩ nó thể hiện sự sốt ruột của ông, để tôi có cơ hội đào bới một vấn đề vẫn canh cánh trong lòng tôi từ lâu nay.​

Ảnh trong bài: Truyền thông Thái Hà
 

Tủ sách J.H. Newman: Giáo dục khai phóng Công giáo – John Henry Newman và câu hỏi về mục đích của giáo dục

Những năm gần đây, khái niệm “giáo dục khai phóng” xuất hiện ngày càng nhiều trong các cuộc thảo luận về giáo dục tại Việt Nam. Người ta ca ngợi nó như một con đường dẫn tới sáng tạo, tư duy phản biện và năng lực thích ứng trong một thế giới biến động. Đồng thời, người ta cũng phê phán nó như một sản phẩm du nhập từ phương Tây, một mô hình xa lạ với truyền thống văn hóa Việt Nam, thậm chí là một phương tiện truyền tải những giá trị chính trị và xã hội không phù...

Lễ tuyên phong Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp | 8:00 ngày 02/7/2026

0 lượt xem

Bài viết chờ bạn bình luận

Bên trên