Tủ sách J.H. Newman: Phục sinh và Thập giá

5.00 star(s) 1 Vote
  • Chủ đề Author

Sáu mươi năm sau chiến tranh La Mã-Do Thái lần thứ nhất, mà kết quả của nó là sự phá hủy hoàn toàn Đền thờ Jerusalem vào năm 70AD, người Do Thái lại nổi dậy. Lần này họ được lãnh đạo bởi một người mà Akiva, vị rabbi lãnh tụ tinh thần của người Do Thái ở thời điểm đó, gọi là messiah (đấng cứu thế, đấng ki-tô): bar-Kokhba, con của một vì sao. Tư cách “đấng cứu thế” của bar-Kokhba được đông đảo giới lãnh đạo Do Thái, kể cả nhiều thành viên của Tòa Sanherin, thừa nhận. Ba năm sau, phong trào khởi nghĩa của bar-Kokhba cũng bị người La Mã dập tắt. Đây là cuộc nổi dậy cuối cùng của người Do Thái. Hai ngàn năm kế tiếp, cho đến giữa thế kỷ 20, không ai còn nói đến một vương quốc của người Do Thái.


phailamgi_Tủ sách J.H. Newman Phục sinh và Thập giá_cv1.jpg


Kể từ sau thời trở về từ cuộc lưu đày ở Babylon và xây lại đền thờ, người Do Thái luôn trông chờ đấng cứu thế của họ trở lại để cứu họ thoát khỏi ách ngoại bang. Cuộc nổi loạn của cha con nhà Judah người Galilai thời đầu công nguyên cũng nằm trong sự trông đợi này. Con cháu của Judah về sau bị người La Mã hành quyết vì tội phản loạn. Trước bar-Kokhba một trăm năm cũng có một vị cứu thế khác xuất hiện nhưng không được ai trong giới lãnh đạo Do Thái nhìn nhận ngoài những môn đệ thân cận của ông. Người đó là Iesous (vẫn đọc là “Giê-su”). Hôm nay, thứ Sáu tuần thánh, những người theo tín ngưỡng Cứu thế kỷ niệm ngày ông bị người La Mã hành quyết.

Việc Iesous bị hành quyết là một nỗi bàng hoàng, sợ hãi, và thất vọng lớn đối với các môn đệ của ông. Chính Simon, người môn đệ đầu đàn, cũng đã có lần có ý khiển trách Iesous khi Iesous nói đến điều đang chờ đợi ông ở phía trước. Đấng Cứu thế của người Do Thái không đến để bị hành quyết. Thế rồi những người đi theo Iesous chứng kiến đấng cứu thế của họ bị xử tội chết và đóng lên thập giá, nghĩa là chịu một cái chết ô chục nhất có thể có.

Nếu như Iesous không được Trời cho trỗi dậy ba ngày sau thì có lẽ ông sẽ chỉ được lịch sử nhắc đến như người lãnh đạo một phong trào bất bạo động thất bại. Các môn đệ của ông, sau một thời gian khóc thương ông cũng hồi tĩnh, hoặc sẽ trở về với cuộc sống thường nhật hoặc đi tìm một người dẫn đầu của một phong trào khác, như các môn đệ của Judah hay của bar Kokhba. Nhưng Iesous đã được Trời cho trỗi dậy từ cõi chết.

Không chờ đến thời hiện đại, với kiến thức khoa học, người ta mới biết người chết không sống lại. Từ rất xa xưa, trong tất cả các nền văn minh, con người đã biết người chết không sống lại. Sự sống lại qua ảo giác, hoặc hiện về trong giấc mộng, hoặc sự sống tiếp tục của linh hồn thì truyền thống nào cũng có. Nhưng sự sống lại của nhục thể như Iesous được vực dậy thì là lần đầu tiên. Lúc Iesous chết, dưới chân thập giá chỉ còn Ioann và những người thân quyến. Ngay cả các môn đệ thân cận nhất của ông, bàng hoàng vì đấng cứu thế mà họ đã tin tưởng bị hành quyết, đã bỏ rơi ông và sau đó vẫn hoài nghi về sự sống lại của ông. Các sách Tin Mừng trong kinh Tân Ước mô tả họ với sự do dự, lo âu trước một thực tại mà họ chưa bao giờ tiên liệu.

phailamgi_Tủ sách J.H. Newman Phục sinh và Thập giá_cv2.jpg


Sự sống lại bằng nhục thể của Iesous đặt họ trước một thách thức trí tuệ. Đấng Cứu thế mà họ trông đợi thật sự đã đến nhưng không đến theo cách mà họ từng hiểu. Họ phải hiểu lại lịch sử cứu rỗi của Israel. Sách Tin Mừng của Matthaios mở đầu bằng gia phả nối Iesous về lại với Abraham. Sách Tin Mừng của Loukas đi xa hơn, về với chính Adam. Họ hiểu ra rằng đấng cứu thế mà các tiên tri hứa hẹn trong kinh Cựu Ước đã đưa chương trình cứu rỗi mà Trời dành cho Israel đến đỉnh điểm. Cũng phải mất nhiều thời gian nữa để những tín hữu đầu tiên đi theo Iesous dần dần hiểu ra rằng vị cứu thế của họ chính là Trời. Thế rồi, cái ý tưởng Trời bị con người đóng đinh lên thập giá trở thành ý tưởng vĩ đại nhất trong lịch sử ý tưởng của nhân loại. Hai ngàn năm sau con người vẫn đang vật lộn với ý tưởng này, và trong suốt hai ngàn năm đó, nó là niềm cảm hứng bất tận cho niềm hy vọng của nhân loại và là nền tảng cốt lõi của hệ thống giá trị và luân lý phổ quát nhất của nền văn minh đương đại.

Nhưng tại sao Iesous phải chết một cái chết nhục nhã như thế?

Μùa xuân năm 71BC, trên sông Silarius, quân đoàn La Mã của Crassus cuối cùng đã đánh bại Spartacus và dập tắt cuộc khởi nghĩa của ông và những người nô lệ. Crassus ra lệnh hành quyết sáu ngàn nghĩa binh bị bắt sau trận chiến. Trên đoạn đường dài hai trăm cây số dọc theo Appian Way từ Rome đến Capua, cứ cách nhau chừng ba mươi mét là một cây thập giá với một xác người nửa sống nửa chết, ruồi bọ bu quanh tấm thân đang thối rửa. Thập giá là biểu tượng của quyền lực La Mã hung bạo, là công cụ trấn áp đối với những ai dám nổi loạn với lời răn đe của một cái chết thảm khốc.

Thế rồi, tin Iesous, đấng Cứu thế không được thừa nhận của dân Do Thái, bị đóng đinh trên thập giá nhưng được vực dậy, theo chân các sứ đồ nhanh chóng lan tỏa trên khắp vùng đông Địa Trung Hải. Những người theo chân Iesous, từ một nhóm môn đệ thân tín chỉ trên dưới hai mươi người, một người phản bội ông và số khác bỏ rơi ông, mà phần lớn họ thuộc tầng lớp dưới của xã hội, ở thời điểm Iesous chết, chỉ ba thế kỷ sau trở thành một lực lượng xã hội đủ lớn mạnh để khuất phục đế chế La Mã. Từ một biểu tượng răn đe của một cái chết ô nhục, thập giá trở thành biểu tượng của một sức mạnh khác mà sự thôi thúc của nó vang vọng đến hai ngàn năm sau.

phailamgi_Tủ sách J.H. Newman Phục sinh và Thập giá_1.jpg


Nhưng tại sao Iesous phải chết? Và tại sao phải chết trên thập giá?

Có thể nói, lịch sử thần học, nghĩa là một bộ phận lớn của lịch sử tư duy phương Tây, ít nhất là suốt hơn 1000 năm đầu tiên, cho đến trước thời hiện đại, chỉ xoay quanh cái trục của câu hỏi này. Nói cách khác, câu hỏi này thuộc một động lực lớn giúp thúc đẩy sự phát triển của tư duy con người, và qua đó đẩy bánh xe lịch sử về phía trước. (Nietzsche, triết gia chống tín ngưỡng Cứu thế cuối thế kỷ 19, người đã nhét vào miệng của nhân vật Zarathustra của ông câu nói trứ danh “Trời đã chết”, cho rằng chính sự hun đúc của tư duy trong sự vật lộn với đức tin Cứu thế đã chuẩn bị cho phương Tây một ý chí theo đuổi lý tính và tri thức, mà con đẻ của tiến trình này là nền văn minh của nghệ thuật, khoa học, và luận lý đương đại. Không phải ngẫu nhiên mà khoa học và triết học Khai sáng, đó là chưa nói đến nghệ thuật và âm nhạc ở đỉnh cao của chúng, đến với vùng văn minh Cứu thế trước các vùng văn minh khác.) Lúc sinh thời, Iesous nói rất ít về lý do tại sao ông phải bị hành quyết trên thập giá. Thế hệ sứ đồ để lại trong kinh sách dấu ấn của họ trong cố gắng lý giải câu hỏi này, mà trong đó ý niệm cứu chuộc và chiến thắng cái ác là những ý niệm tiên khởi. Hai ngàn năm sau, các thế hệ tín hữu Cứu thế đương đại, cùng lúc chiêm nghiệm các ý niệm tiên khởi đó, cũng đang vật lộn với câu hỏi này, như Iakob từng một đêm vật lộn với Trời đến thương tích và được Trời đặt cho cái tên Israel, nghĩa kẻ vật lộn với Trời.

Như Moses đã treo hình tượng con rắn lên một cái cột để những ai nhìn thấy nó sẽ được chữa lành (vết thương rắn đã cắn), Con của Con Người cũng sẽ được treo lên. Iesous nói với vị rabbi Nicodemus về cái chết đang chờ đón ông như thế. Con của Con Người, tên gọi đấng cứu thế mà Israel trông đợi trong sách Daniel, là danh xưng của chính Iesous. Con của Con Người phải bị treo trên thập giá để con người nhìn thấy những gì đang giết chết họ, nghĩa là đang giết chết sáng tạo của Trời: cái Ác. Sáu ngàn nghĩa binh của Spartacus bị đóng trên thập giá dọc theo Appian Way một trăm năm trước, và vô số nạn nhân của thập giá khác trong suốt chiều dài lịch sử của đế chế La Mã, không đủ để con người nhận ra cái ác của họ. Nạn nhân phải chính là Trời. Hơn thế, nạn nhân của thập giá phải là Trời thì con người, nhìn vào đó, mới được chữa lành.

phailamgi_Tủ sách J.H. Newman Phục sinh và Thập giá_2.jpg


Xuyên suốt chiều dài của những thế kỷ kế tiếp, các hệ thống lý thuyết nhằm giải thích cái chết Iesous, trên nền tảng của kinh sách – cứu chuộc và chiến thắng cái ác, lần lượt ra đời, đánh dấu sự trưởng thành, mà có khi đưa đến xung đột chia rẽ gay gắt, của tư duy Cứu thế. Tại tâm điểm của các hệ thống lý thuyết này là thực tại của một nghịch lý thách thức trí tuệ của con người: Trời chịu một cái chết thảm khốc nhất do chính sự tàn bạo của con người. Nghịch lý này là lời mời gọi chiêm nghiệm về mối liên đới giữa các thái cực của thực tại và tư duy: giữa quyền lực của con người và quyền lực của Trời; giữa lòng thù hận và tình yêu thương; giữa tội lỗi và sự tha thứ; giữa vô vọng và hy vọng; giữa cái chết và sự sống lại. Con người trở thành người, nghĩa là trở thành sáng tạo đích thực của Trời từ sự chiêm nghiệm đó. Người theo tín ngưỡng Cứu thế xem sự chiêm nghiệm này thuộc về đời sống đức tin của họ.

Thật ra, không cần phải được trang bị bởi các hệ thống lý thuyết thần học về thập giá mới cảm nhận được thập giá. Tự thập giá có sức mạnh của nó. Thập giá, từ một biểu tượng đe dọa của một cái chết thảm khốc trở thành biểu tượng trung tâm của những xung động cốt lõi làm nên con người, trước khi các hệ thống lý thuyết hình thành, tự nó có sức mạnh của nó. Thập giá là ân điển lớn nhất mà Trời từng ban cho con người để nhắc nhở họ là Trời luôn ở bên họ.​
 

Tủ sách J.H. Newman: Giáo dục khai phóng Công giáo – John Henry Newman và câu hỏi về mục đích của giáo dục

Những năm gần đây, khái niệm “giáo dục khai phóng” xuất hiện ngày càng nhiều trong các cuộc thảo luận về giáo dục tại Việt Nam. Người ta ca ngợi nó như một con đường dẫn tới sáng tạo, tư duy phản biện và năng lực thích ứng trong một thế giới biến động. Đồng thời, người ta cũng phê phán nó như một sản phẩm du nhập từ phương Tây, một mô hình xa lạ với truyền thống văn hóa Việt Nam, thậm chí là một phương tiện truyền tải những giá trị chính trị và xã hội không phù...

Cha Trương Bửu Diệp: Đức Thánh Cha nhắc đến biến cố tuyên phong chân phước

0 lượt xem

Bài viết chờ bạn bình luận

Bên trên