Có một câu hỏi trong đời sống đức tin hàng ngày thường ám ảnh tôi: là một tín hữu, mà không phải là một tu sĩ, hay một nhà thần học, hay một vị chủ chăn, tôi phải chọn đứng ở đâu trong các cuộc tranh chấp về thần học, và đặc biệt thần học đạo đức, đang xảy ra ngay ở tầng cao nhất của giới lãnh đạo giáo hội?
Câu hỏi này trở lại trong đầu tôi mấy hôm trước khi đọc được trên X (trước đây là Twitter) một bình luận của Giám mục Robert Barron, người sáng lập tổ chức mục vụ Word on Fire có nhiều ảnh hưởng ở Mỹ, về một bài viết khác của Đức ông Livio Melina trên tờ The Catholic World Report. Cả hai bàn về những tranh chấp nghiêm trọng về thần học đạo đức Công giáo liên quan đến Tổng giám mục Vincenzo Paglia. Việc tôi chọn dịch đăng quan điểm của hai vị này đã là một tố cáo rằng chính tôi đã chọn chỗ đứng cho mình: tôi đồng ý với họ. Nhưng đó không phải là vấn đề ám ảnh tôi.
Như tôi có viết đâu đó trên diễn đàn này, chúng ta phải thận trọng trong việc đem những tranh chấp bên ngoài, kể cả những tranh chấp thần học, vào trong không gian tiếng Việt. Đơn giản là vì, theo đánh giá của tôi, không gian tư duy thần học tiếng Việt chưa được trang bị đủ để dung nạp những tranh chấp lớn như thế. Mặt khác, chúng ta cũng không thể lờ đi những tranh chấp có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống đức tin của mỗi cá nhân tín hữu như thế. Thực tế này đặt mỗi tín hữu trước những thách đố lớn. Con người hiện đại luôn đứng trước áp lực chọn phe phái, và cám dỗ bè phái là thứ cám dỗ dễ nhận diện nhất của ảnh hưởng thế tục. Phản ứng đầu tiên của phần đông tín hữu trước những phát ngôn hay hành vi của hàng giáo phẩm là xếp hàng chọn phe. Điều này tự nó không phải là vấn đề; vấn đề là ở sự cuồng nhiệt bè phái đưa đến những tranh cãi không hòa giải được về những vấn đề mà phần đông tín hữu hiểu rất lơ mơ – hay nói như ở trên, không gian tư duy thần học tiếng Việt chưa được trang bị đủ cho những cuộc tranh cãi như thế.
Nếu bạn đọc đến đây và nghĩ rằng tôi muốn đem chuyện tranh chấp ở ngoài vào nhưng lại không muốn tranh chấp thì bạn đã đúng. Tôi chỉ muốn nói, “các vị ở trên đang choảng nhau kìa” nhưng hoàn toàn không có ý định can dự đến, dù tôi cũng đã chọn chỗ đứng của mình. Riêng về việc ai đúng ai sai, tôi chỉ có thể nói thế này. Không có Marcion (thế kỷ 2) thì còn lâu mới có thư điển Tân ước; không có Areios (thế kỷ 4) thì còn lâu mới có tín lý Ba Ngôi; không có Pelagios hay Nestonios và nhiều tư tưởng dị-đoan khác xuất hiện xuyên suốt chiều dài lịch sử giáo hội thì tín lý và học thuyết của giáo hội cũng khó mà phát triển. Tôi tiếp cận những tranh chấp thần học trong giáo hội từ góc độ lịch sử đó; tôi chọn đứng với người này, không đứng với người khác nhưng không chọn phe. Tôi cảm thấy biết ơn vì mình không phải can dự vào những tranh cãi khó khăn như thế và cầu nguyện cho tất cả.
Như tôi có viết đâu đó trên diễn đàn này, chúng ta phải thận trọng trong việc đem những tranh chấp bên ngoài, kể cả những tranh chấp thần học, vào trong không gian tiếng Việt. Đơn giản là vì, theo đánh giá của tôi, không gian tư duy thần học tiếng Việt chưa được trang bị đủ để dung nạp những tranh chấp lớn như thế. Mặt khác, chúng ta cũng không thể lờ đi những tranh chấp có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống đức tin của mỗi cá nhân tín hữu như thế. Thực tế này đặt mỗi tín hữu trước những thách đố lớn. Con người hiện đại luôn đứng trước áp lực chọn phe phái, và cám dỗ bè phái là thứ cám dỗ dễ nhận diện nhất của ảnh hưởng thế tục. Phản ứng đầu tiên của phần đông tín hữu trước những phát ngôn hay hành vi của hàng giáo phẩm là xếp hàng chọn phe. Điều này tự nó không phải là vấn đề; vấn đề là ở sự cuồng nhiệt bè phái đưa đến những tranh cãi không hòa giải được về những vấn đề mà phần đông tín hữu hiểu rất lơ mơ – hay nói như ở trên, không gian tư duy thần học tiếng Việt chưa được trang bị đủ cho những cuộc tranh cãi như thế.
Nếu bạn đọc đến đây và nghĩ rằng tôi muốn đem chuyện tranh chấp ở ngoài vào nhưng lại không muốn tranh chấp thì bạn đã đúng. Tôi chỉ muốn nói, “các vị ở trên đang choảng nhau kìa” nhưng hoàn toàn không có ý định can dự đến, dù tôi cũng đã chọn chỗ đứng của mình. Riêng về việc ai đúng ai sai, tôi chỉ có thể nói thế này. Không có Marcion (thế kỷ 2) thì còn lâu mới có thư điển Tân ước; không có Areios (thế kỷ 4) thì còn lâu mới có tín lý Ba Ngôi; không có Pelagios hay Nestonios và nhiều tư tưởng dị-đoan khác xuất hiện xuyên suốt chiều dài lịch sử giáo hội thì tín lý và học thuyết của giáo hội cũng khó mà phát triển. Tôi tiếp cận những tranh chấp thần học trong giáo hội từ góc độ lịch sử đó; tôi chọn đứng với người này, không đứng với người khác nhưng không chọn phe. Tôi cảm thấy biết ơn vì mình không phải can dự vào những tranh cãi khó khăn như thế và cầu nguyện cho tất cả.
Đức Giám mục Barron
Và dưới đây là phần bình luận của Giám mục Barron và tóm lược bài viết dài của Đức ông Livio Melina.
Giám mục Barron viết:
“Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Tổng giám mục Vincenzo Paglia, nguyên đại chưởng ấn của Học viện Giáo tông John Paul II về Hôn nhân và Gia đình, đã xác nhận những điều tệ hại nhất mà nhiều người trong chúng ta từng nghi ngờ.
“Ông thừa nhận rằng những thay đổi mà ông thực hiện tại Học viện trong những năm dưới thời Đức Giáo tông Francis được đề ra để khởi xướng một cuộc cải cách "rất sâu sắc" về khái niệm luật tự nhiên.
“Thay vì các chuẩn mực đạo đức tuyệt đối dựa trên sự hiểu biết sâu sắc về các giá trị thiện lành căn bản, ông và các đồng nghiệp lại đề xuất một lý thuyết đạo đức bắt nguồn từ sự phân định lịch sử của trải nghiệm chủ quan và văn hóa – không phải một thứ "thần học tháp ngà" mà là một thứ thần học vận hành "trong lịch sử và trong đời sống của con người".
“Đây tất nhiên là ngôn từ của chủ nghĩa hậu hiện đại thời thượng, và nó thực sự nguy hiểm.
“Cho phép tôi minh họa nguyên lý này bằng một ví dụ. Chế độ nô lệ có sai trái không?
“Bản chất của nó có sai trái không? Sai trái bất kể các cuộc thăm dò ý kiến công chúng nói gì về nó, bất kể sự đồng thuận hiện tại về nó ra sao? Tôi hình dung bất kỳ người tử tế nào cũng sẽ nói là có.
“Nhưng câu trả lời "có" đó được khẳng định dựa trên chính cái mà truyền thống gọi là luật tự nhiên và các giá trị thiện lành căn bản. Có những giá trị nền tảng đến mức các hành vi đi ngược lại chúng, do chính bản chất của chúng, là điều tồi tệ.
“Nếu bạn muốn một trình bày mạch lạc về ý niệm này, hãy tìm đọc thông điệp Veritatis Splendor của vị thánh Giáo tông John Paul II.
“Nếu chúng ta nói rằng đây chỉ là trò "thần học tháp ngà" và rằng đạo đức là một hàm số phụ thuộc vào các dữ liệu văn hóa và trải nghiệm luôn thay đổi, thì tại sao chế độ nô lệ lại không thể biện minh được?
“Một trong những người thông minh nhất từng sống, triết gia Aristotle, đã nghĩ rằng nó đúng; những người cực kỳ sáng suốt và ngay thẳng về mặt đạo đức ở đất nước chúng ta, cho đến tận thế kỷ 19, vẫn nghĩ rằng nó là điều chấp nhận được.
“Ai có thể khẳng định liệu sự đồng thuận có đảo chiều trở lại hay không? Ai có thể nói rằng "trải nghiệm thực tế cuộc sống" sẽ không quay sang biện minh cho nó?
“Điều mà bất kỳ một chương trình đạo đức thực sự nhất quán nào đòi hỏi chính là thứ mà Tổng giám mục Paglia và các đồng nghiệp của ôn đang nỗ lực xóa bỏ, cụ thể là: các chuẩn mực đạo đức tuyệt đối.
“Việc xóa bỏ chúng nhân danh tự do hay sự nhạy bén mục vụ trên thực tế làm cho các luận thuyết đạo đức trở nên rối loạn, giống như việc tương đối hóa các nguyên lý cơ bản của luận lý sẽ khiến bất kỳ cuộc đối thoại lý trí nào cũng trở nên bất khả thi.
“Cuộc phỏng vấn của Đức Tổng giám mục, nói thẳng ra, làm tôi nhớ đến các cuộc thảo luận của tôi tại Thượng hội đồng về tính Hiệp hành (Synod on Synodality) với một số đồng nghiệp người Đức. Dưới danh nghĩa của sự phát triển học thuyết, họ háo hức muốn tương đối hóa hoặc thay đổi tận gốc các nguyên lý làm nền tảng cho nền đạo đức cổ điển. Nếu đây thực sự đã và đang là cuộc chơi, chúng ta đã dấn thân vào những vùng biển đầy nguy hiểm.”
Đức ông Livio Melina
Giám mục Barron đặt đường nối (link) đến bài viết của Đức ông Livio Melina ở cuối lời bình luận này – nguyên văn tiếng Anh trong link ở dưới.
Bài viết “Lời thú nhận của Đức ông Paglia và ngã rẽ cho nền thần học đạo đức Công giáo” của Đức ông Livio Melina không chỉ là một phản ứng đối với cuộc phỏng vấn Tổng Giám mục Vincenzo Paglia mà còn là một chẩn đoán về cuộc khủng hoảng sâu xa đang diễn ra trong thần học đạo đức Công giáo. Theo tác giả, điều đáng chú ý không phải là những phát biểu mới của Tổng Giám mục Paglia, mà là việc ông đã công khai xác nhận mục tiêu vốn bị phủ nhận hoặc che giấu suốt nhiều năm: cải tổ tận gốc quan niệm truyền thống về luật tự nhiên và nền tảng của luân lý Công giáo.
Melina nhắc lại rằng dưới thời Tổng Giám mục Paglia lãnh đạo Học viện John Paul II, nhiều giáo sư gắn liền với di sản của Thánh John Paul II và Đức Giáo tông Benedict XVI đã bị gạt ra hoặc buộc phải rời đi. Khi ấy, người ta thường giải thích rằng đây chỉ là những thay đổi cơ cấu hay nhân sự. Nhưng nay, theo Melina, chính Paglia đã thừa nhận rằng mục tiêu thực sự là thay đổi nền tảng lý thuyết của luân lý Công giáo.
Theo cách trình bày của Melina, cuộc tranh luận xoay quanh hai cách hiểu hoàn toàn khác nhau về luân lý. Một bên là truyền thống được phát triển từ Thomas Aquinas, được đào sâu bởi Thánh John Paul II trong Veritatis Splendor. Truyền thống này cho rằng có những điều thiện lành nền tảng của con người và có những hành vi tự bản chất là sai trái, bất kể hoàn cảnh lịch sử hay ý kiến đa số. Luân lý vì thế không phải là sản phẩm của lịch sử mà là lời đáp của con người trước chân lý về con người và về điều thiện lành.
Bên kia là đường hướng mà Paglia cổ vũ. Theo cách diễn giải của Melina, luân lý không còn được xây dựng trên các chuẩn mực phổ quát, nhưng trên sự phân định các kinh nghiệm cụ thể, các hoàn cảnh văn hóa và tiến trình lịch sử. Trọng tâm chuyển từ "điều gì là đúng theo bản tính con người" sang "con người đang sống và cảm nghiệm điều gì trong lịch sử". Melina cho rằng đây không đơn thuần là một điều chỉnh mục vụ. Nó là một cuộc thay đổi mô hình (paradigm shift). Khi kinh nghiệm sống trở thành tiêu chuẩn tối hậu, luật tự nhiên không còn đóng vai trò nền tảng nữa. Kết quả là các chuẩn mực luân lý tuyệt đối dần dần mất chỗ đứng.
Tác giả đặc biệt phê phán việc đối lập giữa "thần học tháp ngà" và "thần học trong lịch sử". Theo ông, đây là một đối lập giả tạo. Thần học đạo đức Công giáo chưa bao giờ phủ nhận lịch sử hay kinh nghiệm. Vấn đề là lịch sử cần được soi sáng bởi chân lý về con người. Nếu không, lịch sử chỉ còn là dòng chảy của các ý kiến thay đổi theo thời gian.
Một điểm quan trọng khác trong bài là nhận định rằng cuộc tranh luận hiện nay không thực sự xoay quanh vài vấn đề luân lý cụ thể như hôn nhân, tính dục hay gia đình. Đằng sau những vấn đề ấy là câu hỏi căn bản hơn: Liệu chân lý luân lý có tồn tại khách quan hay không? Nếu câu trả lời là có, thì luật tự nhiên và các chuẩn mực luân lý tuyệt đối vẫn giữ vai trò trung tâm. Nếu câu trả lời là không, thì toàn bộ nền thần học đạo đức Công giáo phải được xây dựng lại trên cơ sở kinh nghiệm và phân định lịch sử.
Melina kết thúc bằng việc mô tả đây là một "ngã ba đường" đối với thần học đạo đức Công giáo. Theo ông, cuộc tranh luận không còn là vấn đề nhân sự hay quản trị học viện nữa. Nó là cuộc lựa chọn giữa hai viễn tượng về con người, về tự do và về chân lý. Và cuộc phỏng vấn Tổng Giám mục Paglia đã làm cho sự lựa chọn ấy trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.
Điều khiến tôi chú ý nhất khi đọc bài này là Melina thực chất đang lặp lại một lo ngại rất quen thuộc của Đức Benedict XVI: nếu chân lý bị thay thế bằng lịch sử, thì cuối cùng lịch sử sẽ trở thành chân lý. Đó cũng chính là lý do tại sao Giám mục Barron trong bài bình luận đã chọn ví dụ về chế độ nô lệ. Cả Barron lẫn Melina đều không thực sự tranh luận về hôn nhân hay gia đình; họ đang tranh luận về một câu hỏi sâu xa hơn nhiều: Có những điều luôn luôn đúng và luôn luôn sai hay không?
Đó là câu hỏi thực sự nằm sau toàn bộ cuộc tranh cãi quanh Tổng Giám mục Paglia.
- Chú thích: Bài “Lời thú nhận của Đức ông Paglia và ngã rẽ cho nền thần học đạo đức Công giáo” của Livio Melina https://www.catholicworldreport.com...d-the-crossroads-for-moral-catholic-theology/
