Thành viên
- Tham gia
- 10/12/25
- Bài viết
- 15
- Chủ đề Author
- #1
Dịch thuật Kinh Thánh là một công việc phức tạp, đòi hỏi vừa trung thành với văn bản gốc, vừa bảo đảm tính dễ hiểu trong ngôn ngữ đích. Những khó khăn phát sinh do bối cảnh lịch sử, văn hóa và thể loại văn chương khác biệt, đồng thời vì Kinh Thánh được soạn tác bởi nhiều tác giả, qua nhiều thời đại, và trong các nền văn hóa Do Thái – Hi Lạp – Cận Đông cổ đại xa lạ với môi trường Việt Nam.
Bài viết này không nhằm nhận định đúng sai trong các bản dịch, nhưng đặt ra hai vấn đề để suy nghĩ và đối chiếu: (1) vấn đề gộp ý trong các thuật ngữ, cụm từ và (2) vấn đề thay đổi thứ tự ý trong các câu có cấu trúc phức tạp thường thấy trong các bản văn của Nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng vụ. Hai điểm này ảnh hưởng đáng kể đến việc đọc, suy ngẫm Lời Chúa, nghiên cứu, học thuật và đối chiếu văn bản, nhất là khi tham khảo các nguồn quốc tế hoặc văn kiện Giáo hội.
I. Vấn đề thứ nhất: Gộp ý trong dịch thuật
Trong bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ (CGKPV), một số câu có xu hướng gộp hai hay nhiều thuật ngữ riêng biệt thành một cụm ý. Điều này có thể giúp Tiếng Việt mạch lạc hơn trong mục vụ, nhưng hệ quả là làm giảm mức phân giải thuật ngữ khi đối chiếu với văn bản gốc hoặc với các truyền thống dịch khác. Dưới đây xin nêu vài ví dụ cụ thể về việc gộp ý của bản dịch:
Ví dụ 1: Ep 6, 12
Bản CGKPV liệt kê ba thế lực sự dữ:
Ví dụ 1: Ep 6, 12
Bản CGKPV liệt kê ba thế lực sự dữ:
- những quyền lực thần thiêng
- những bậc thống trị thế giới tối tăm
- những thần linh quái ác chốn trời cao
Trong khi bản dịch của Lm Nguyễn Thế Thuấn và bản Tin Lành 1925 liệt kê bốn thế lực.
Bản gốc Hy Lạp/Tiếng Anh (trích yếu):
Bản gốc Hy Lạp/Tiếng Anh (trích yếu):
- ἀρχαί (archai) – principalities
- ἐξουσίαι (exousiai) – powers/authorities
- κοσμοκράτορες (kosmokratores) – the rulers of this present darkness
- πνευματικὰ πονηρίας (pneumatika tēs ponerias) – evil spirits in the heavens
Bản văn của CGKPV gộp archai/principalities + exousiai/powers thành “quyền lực thần thiêng” vì vậy chỉ còn lại ba thế lực, thay vì bốn như bản văn gốc Hi Lạp hay các bản dịch khác trên thế giới.
Hệ quả học thuật:
Chúng ta thử tưởng tượng một giáo dân đang nghe Đức Giáo hoàng hay một giáo sĩ nước ngoài giảng đoạn Kinh Thánh này, trong đó ngài cắt nghĩa về bốn thế lực thần thiêng nhưng khi đối chiếu với bản dịch CGKPV lại thấy có ba thế lực. Hay thử tưởng tượng một Linh mục đang dịch bài giảng hay bài viết từ nước ngoài khi đến đoạn này tác giả nói về “bốn thế lực” không biết phải dịch sao cho hợp lý… Nếu dịch bốn sẽ mâu thuẫn với bản CGKPV vốn được người Việt sử dụng rộng rãi, nếu dịch ba liệu có chuyển tải hết ý từ bài viết chăng? Điều này thật bối rối nếu không hiểu rõ lý do: bản dịch CGKPV đã gộp bốn thành ba.
Bốn thuật ngữ trên chỉ các sự dữ nhưng đối lập lại với bốn bậc thiên thần cao cấp theo các truyền thống thần học về thứ bậc thiên thần từ thế kỷ IV–V và xuất hiện trong các tác phẩm của Dionysius Areopagita, qua đó ảnh hưởng đến phân loại 9 phẩm thiên thần trong Giáo Hội. Việc gộp gây khó trong:
Hệ quả học thuật:
Chúng ta thử tưởng tượng một giáo dân đang nghe Đức Giáo hoàng hay một giáo sĩ nước ngoài giảng đoạn Kinh Thánh này, trong đó ngài cắt nghĩa về bốn thế lực thần thiêng nhưng khi đối chiếu với bản dịch CGKPV lại thấy có ba thế lực. Hay thử tưởng tượng một Linh mục đang dịch bài giảng hay bài viết từ nước ngoài khi đến đoạn này tác giả nói về “bốn thế lực” không biết phải dịch sao cho hợp lý… Nếu dịch bốn sẽ mâu thuẫn với bản CGKPV vốn được người Việt sử dụng rộng rãi, nếu dịch ba liệu có chuyển tải hết ý từ bài viết chăng? Điều này thật bối rối nếu không hiểu rõ lý do: bản dịch CGKPV đã gộp bốn thành ba.
Bốn thuật ngữ trên chỉ các sự dữ nhưng đối lập lại với bốn bậc thiên thần cao cấp theo các truyền thống thần học về thứ bậc thiên thần từ thế kỷ IV–V và xuất hiện trong các tác phẩm của Dionysius Areopagita, qua đó ảnh hưởng đến phân loại 9 phẩm thiên thần trong Giáo Hội. Việc gộp gây khó trong:
- angelology (thiên thần học)
- demonology (quỷ học)
- nghiên cứu liên văn bản, trao đổi lời Chúa giữa người đọc bản dịch CGKPV với người đọc bản khác
- chú giải Kinh Thánh, Phụng vụ, suy niệm lời Chúa
- phân tích bối cảnh chính trị-thần học của Phaolô
- nhất là tạo cảm giác lời Chúa bị sửa đổi, cắn xét hoặc giảm bớt
Dưới đây xin đưa thêm một số ví dụ khác tương tự:
Ví dụ 2: Cl 1, 16
CGKPV liệt kê hai quyền lực:
“dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới”
Nhưng bản gốc Hy Lạp liệt kê bốn:
Ví dụ 2: Cl 1, 16
CGKPV liệt kê hai quyền lực:
“dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới”
Nhưng bản gốc Hy Lạp liệt kê bốn:
- θρόνοι (thronoi) – thrones
- κυριότητες (kyriotētes) – dominions
- ἀρχαί (archai) – principalities
- ἐξουσίαι (exousiai) – powers
Trong truyền thống Kitô giáo (Công giáo – Chính thống – Tin Lành), bốn thuật ngữ này được xem như bốn bậc cao trong triều thần.
Ví dụ 3: 1 Pr 3, 22
Ví dụ 3: 1 Pr 3, 22
- angels
- authorities
- powers
CGKPV lại gộp bớt (authorities + powers: được dịch chung là toàn thể thần minh) khiến mất đối xứng:
“…đã bắt các thiên sứ và toàn thể thần minh phải phục quyền”
Ví dụ 4: Ep 1,21
Bản gốc liệt kê 5 thuật ngữ (liên tục):
“…đã bắt các thiên sứ và toàn thể thần minh phải phục quyền”
Ví dụ 4: Ep 1,21
Bản gốc liệt kê 5 thuật ngữ (liên tục):
- ρχή – principality
- ἐξουσία – authority
- δύναμις – power
- κυριότης – dominion
- παντὸς ὀνόματος – every name
Bản Tiếng Anh
“… far above every principality, authority, power and dominion, and every name that is named not only in this age but also in the one to come."
CGKPV gộp thành hai ý:
“… vượt trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể được…”
Hiện tượng: gộp 4 thuật ngữ thành 2 cụm.
Hệ quả: đồng dạng với Eph 6,12 và Col 1,16 tạo ra “chuẩn mục vụ CGKPV” nhưng xa “chuẩn liệt kê Phaolô”.
Ví dụ 5: Cl 2, 10
Bản gốc:
“… τῆς ἀρχῆς καὶ τῆς ἐξουσίας…”
NAB/NRSV:
“… every principality and power.”
CGKPV:
“… mọi quyền lực thần thiêng…”
Hiện tượng: gộp 2 thành 1 cụm.
Hệ quả: CGKPV nhất quán nội bộ, nhưng ai nghiên cứu Phaolô sẽ phải “xuất ngược” ἀρχή/ἐξουσία.
“… far above every principality, authority, power and dominion, and every name that is named not only in this age but also in the one to come."
CGKPV gộp thành hai ý:
“… vượt trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể được…”
Hiện tượng: gộp 4 thuật ngữ thành 2 cụm.
Hệ quả: đồng dạng với Eph 6,12 và Col 1,16 tạo ra “chuẩn mục vụ CGKPV” nhưng xa “chuẩn liệt kê Phaolô”.
Ví dụ 5: Cl 2, 10
Bản gốc:
“… τῆς ἀρχῆς καὶ τῆς ἐξουσίας…”
NAB/NRSV:
“… every principality and power.”
CGKPV:
“… mọi quyền lực thần thiêng…”
Hiện tượng: gộp 2 thành 1 cụm.
Hệ quả: CGKPV nhất quán nội bộ, nhưng ai nghiên cứu Phaolô sẽ phải “xuất ngược” ἀρχή/ἐξουσία.
II. Vấn đề thứ hai: thay đổi thứ tự ý trong câu
Một số câu dài có cấu trúc lồng ghép theo phong cách Hy Lạp cổ. Bản CGKPV thường tái cấu trúc để tiếng Việt tự nhiên hơn, nhưng việc đảo trật tự khiến khó đối chiếu khi nghiên cứu hoặc khi đọc các văn kiện của Tòa Thánh vốn trích theo thứ tự nguyên bản.
Ví dụ: Rm 1, 9
CGKPV:
“Thiên Chúa là Đấng tôi hết lòng thờ phượng khi loan báo Tin Mừng về Con của Người, chính Người làm chứng cho tôi là tôi hằng nhớ đến anh em”
Lm Nguyễn Thế Thuấn:
“Người chứng giám cho tôi, Thiên Chúa, … tôi không ngớt nhớ đến anh em”
Bản Tiếng Anh;
“God is my witness, whom I serve with my spirit in the gospel of his Son, that I remember you constantly.”
Nhìn theo ngữ pháp Hy Lạp, cấu trúc Rm 1,9 gồm các lớp lồng:
A – God is my witness
B – whom I serve with my spirit
C – in the gospel of his Son
D – that I remember you constantly.
Khi đảo, thành: B-A-D hoặc A-C-B-D tùy cách Việt hóa có thể thuận hơn cho đọc mục vụ nhưng bất lợi cho đối chiếu, khi các bản văn một ý A, B hoặc C của câu. Khi đọc văn bản nước ngoài hoặc văn kiện của Giáo Hội trích Rm 1,9a “God is my witness” thì đối chiếu bản GKPV không còn là 9a nữa, nó trở thành Rm 1, 9c.
Hệ quả thực tế:
Ví dụ: Rm 1, 9
CGKPV:
“Thiên Chúa là Đấng tôi hết lòng thờ phượng khi loan báo Tin Mừng về Con của Người, chính Người làm chứng cho tôi là tôi hằng nhớ đến anh em”
Lm Nguyễn Thế Thuấn:
“Người chứng giám cho tôi, Thiên Chúa, … tôi không ngớt nhớ đến anh em”
Bản Tiếng Anh;
“God is my witness, whom I serve with my spirit in the gospel of his Son, that I remember you constantly.”
Nhìn theo ngữ pháp Hy Lạp, cấu trúc Rm 1,9 gồm các lớp lồng:
A – God is my witness
B – whom I serve with my spirit
C – in the gospel of his Son
D – that I remember you constantly.
Khi đảo, thành: B-A-D hoặc A-C-B-D tùy cách Việt hóa có thể thuận hơn cho đọc mục vụ nhưng bất lợi cho đối chiếu, khi các bản văn một ý A, B hoặc C của câu. Khi đọc văn bản nước ngoài hoặc văn kiện của Giáo Hội trích Rm 1,9a “God is my witness” thì đối chiếu bản GKPV không còn là 9a nữa, nó trở thành Rm 1, 9c.
Hệ quả thực tế:
- trích dẫn học thuật không còn tương ứng (Rm 1,9a ≠ Rm 1,9a trong văn quốc tế)
- người đọc, học viên thần học cần “quy đổi” trật tự khi làm nghiên cứu
- đặc biệt gặp khó khăn khi đọc văn kiện và các trích dẫn của Tòa Thánh (các văn kiện Latinh/Anh/Ý/Pháp luôn giữ độ chính xác cao theo trình tự “sequence fidelity”)
Tóm lại, việc dịch Kinh Thánh là công việc hết sức khó khăn, tác giả bài viết này ghi nhận rất lớn sự cố gắng của các dịch giả trong việc mang lời Chúa đến cho mọi người. Trên đây là hai nỗi niềm băn khoăn và bối rối khi đọc Kinh Thánh và các bài giảng nước ngoài mang đối chiếu với bản dịch CGKPV. Điều này ngày nay càng trở nên phổ biến khi mà công nghệ thông tin và các công cụ dịch thuật ngày càng nhiều về số lượng, sát về chất lượng; cũng như việc đọc tham khảo các bản văn nước ngoài, nhất là các văn kiện của Giáo Hội ngày càng nhiều trong tu sĩ và giáo dân. Người viết bài ước mong được các dịch giả Kinh Thánh cân nhắc, nghiên cứu kỹ…trong việc nên hay không khi gộp ý và đảo thứ tự các câu văn…nhằm để mọi người được tiếp cận và đọc, suy ngẫm Lời Chúa rộng rãi cũng như thuận tiện cho việc nghe giảng, đọc các văn kiện của Giáo Hội.
