Behold God’s Providence
- Tham gia
- 17/12/23
- Bài viết
- 1,673
- Chủ đề Author
- #1
Việc Tòa Thánh áp dụng vạ tuyệt thông đối với các giám mục thuộc Huynh đoàn Thánh Piô X - SSPX, thường được đặt cạnh cách Vatican xử lý những vụ tấn phong giám mục không có sự chấp thuận rõ ràng của Đức Giáo hoàng tại Trung Quốc.
Lập luận phổ biến cho rằng nếu các giám mục SSPX bị chế tài vì tấn phong trái phép, thì những giám mục được chính quyền Trung Quốc lựa chọn hoặc tấn phong không có ủy nhiệm của Rôma cũng phải chịu hình phạt tương tự. Xét bề ngoài, đây là một so sánh có sức thuyết phục. Tuy nhiên, hai trường hợp diễn ra trong những hoàn cảnh giáo hội, chính trị và ngoại giao hoàn toàn khác nhau.
Sự khác biệt trước hết nằm ở cách Tòa Thánh quan hệ với các quốc gia. Trong lịch sử, Vatican đã ký hàng trăm hiệp ước với nhiều chính quyền, kể cả những chế độ không thân thiện với Công giáo. Mục tiêu của các thỏa thuận này không phải lúc nào cũng là đạt được ngay quyền tự do trọn vẹn cho Giáo hội, nhưng thường là bảo vệ những quyền căn bản nhất của tín hữu trong một tình thế khó khăn.
Không ít hiệp ước từng cho phép chính quyền dân sự tham gia ở những mức độ khác nhau vào tiến trình bổ nhiệm giám mục. Hiệp ước với Pháp năm 1801 cho phép nhà nước đề cử ứng viên, trong khi Đức Giáo hoàng chuẩn nhận. Những thỏa thuận với Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha hay Venezuela trong thế kỷ XX cũng trao cho chính quyền quyền được thông báo, phản đối hoặc tham gia vào việc lựa chọn giám mục.
Những nhượng bộ ấy không phản ánh lý tưởng của Giáo hội, nhưng là kết quả của một chiến lược ngoại giao nhằm giành lấy không gian sinh tồn cho các cộng đoàn Công giáo. Tòa Thánh thường chấp nhận một thỏa thuận chưa hoàn hảo nếu điều đó giúp duy trì hàng giáo phẩm, bảo vệ các bí tích và ngăn cộng đoàn tín hữu bị cô lập hoàn toàn.
Cách tiếp cận này trở nên rõ nét trong chính sách Ostpolitik của Vatican từ thập niên 1960. Thay vì chỉ đối đầu với các chế độ cộng sản, Tòa Thánh tìm cách đối thoại để bảo vệ người Công giáo đang sống dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của nhà nước.
Tiến trình quan hệ giữa Vatican và Việt Nam thường được viện dẫn như một ví dụ. Sau năm 1975, Giáo hội Công giáo tại Việt Nam trải qua nhiều hạn chế: cơ sở bị trưng dụng, chủng viện bị kiểm soát, các hoạt động mục vụ bị thu hẹp và quan hệ với Tòa Thánh bị gián đoạn. Tuy nhiên, qua nhiều thập niên đối thoại, hai bên từng bước thiết lập các cơ chế trao đổi về việc bổ nhiệm giám mục và đời sống tôn giáo.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao - bà Lê Thị Thu Hằng tiếp Tổng Giám mục Marek Zalewski, Đại diện Thường trú đầu tiên của Tòa thánh Vatican tại Việt Nam
Kết quả không đến ngay lập tức, nhưng quan hệ dần được cải thiện. Việc thiết lập Văn phòng Đại diện thường trú của Tòa Thánh tại Hà Nội được xem là một bước tiến quan trọng. So với giai đoạn đầu sau chiến tranh, người Công giáo tại Việt Nam hiện có nhiều không gian hơn để tổ chức đời sống phụng vụ, đào tạo linh mục và duy trì liên lạc với Rôma.
Thỏa thuận giữa Vatican và Trung Quốc được xây dựng với hy vọng tương tự, dù kết quả gây nhiều tranh cãi hơn. Những người chỉ trích cho rằng Bắc Kinh tiếp tục kiểm soát đời sống Giáo hội, gây sức ép với các cộng đoàn không đăng ký và can thiệp vào việc bổ nhiệm giám mục. Đức Hồng y Giuse Trần Nhật Quân từng lên án mạnh mẽ đường lối này, cho rằng các tín hữu trung thành đã bị bỏ rơi.
Tuy nhiên, Vatican phải tính đến hoàn cảnh đặc biệt của các giám mục Trung Quốc. Nhiều vị thi hành sứ vụ trong một hệ thống nơi sự chống đối chính quyền có thể dẫn tới giám sát, bắt giữ, giam cầm hoặc mất tích. Một số giáo sĩ không có điều kiện hành động hoàn toàn tự do.
Trong bối cảnh ấy, việc công bố hình phạt nghiêm khắc có thể không chỉ tác động đến cá nhân giám mục, mà còn khiến toàn thể cộng đoàn địa phương bị cô lập. Nó cũng có thể bị chính quyền coi là hành động đoạn tuyệt ngoại giao, làm thu hẹp hơn nữa khả năng tiếp cận của Tòa Thánh đối với người Công giáo Trung Quốc.
Ảnh: SSPX
Hoàn cảnh của SSPX khác căn bản. Các giám mục và linh mục của huynh đoàn hoạt động tại những quốc gia nơi họ không bị chính quyền cưỡng ép phải tấn phong giám mục hay chống lại mệnh lệnh của Đức Giáo hoàng. Họ không đứng trước nguy cơ bị nhà nước bắt giữ hoặc tra tấn nếu tuân phục Rôma.
Hơn nữa, các vụ tấn phong của SSPX được tiến hành sau khi Tòa Thánh đã trực tiếp cấm thực hiện. Đó là một hành vi được thực hiện có chủ ý, trong điều kiện tự do, bất chấp quyền tối thượng của Đức Giáo hoàng trong việc bổ nhiệm và chuẩn nhận các giám mục.
Các tín hữu gắn bó với SSPX cũng không bị tước mất mọi khả năng tiếp cận đời sống bí tích. Họ vẫn có thể đến với các giáo xứ, linh mục và giám mục hiệp thông với Rôma. Hoàn cảnh ấy hoàn toàn khác với những cộng đoàn tại Trung Quốc có thể bị nhà nước cô lập khỏi Giáo hội hoàn vũ.
Thỏa thuận Vatican-Trung Quốc có thể và cần được tiếp tục thảo luận, phê bình và đánh giá. Nhưng dùng nó để biện minh cho hành vi bất tuân của SSPX là một phép so sánh thiếu nền tảng.
Hai trường hợp có một số nét tương đồng bên ngoài, nhưng về bản chất, chúng không thuộc cùng một bình diện.
