- Chủ đề Author
- #1
Những ngày này, người Công giáo và không ít anh chị em không Công giáo đang hướng về giáo phận Vinh, nơi đang xảy ra một vụ xét xử "ngoại tư pháp" giữa đức giám mục giáo phận và một linh mục dưới quyền.
Đằng sau tất cả những sự kiện đau lòng, gây chia rẽ, chia phe phái, có lẽ phần lớn xuất phát từ cách hiểu về đức vâng phục trong tinh thần Kitô giáo, nhất là mối tương quan giữa quyền bính và vâng phục.
Đức Tổng Giám mục TGP. Hà Nội trao bài sai cho các linh mục năm 2025. Ảnh: TGP. Hà Nội
Quyền bính và tuân phục
Nói về quyền bính và vâng phục, thần học tu đức luôn coi đây là 2 khía cạnh tất yếu của một đời hiến dâng, triều cũng như dòng.
Tuy nhiên, trong thực tế, không biết vì lý do gì, mỗi khi nói tới đời tu, nhiều người lại chỉ nói về sự vâng phục của bề dưới mà ít nói tới quyền và sự vâng phục của bề trên; trong khi đây là một khía cạnh rất quan trọng giúp cho việc sống vâng phục được trọn vẹn cả đôi đàng.
Nói về quyền bính, Sách thánh nhiều lần khẳng định, quyền bính, ngay cả quyền đời, cũng đều xuất phát từ Chúa, và được ban cho không phải để thống trị, nhưng là để phục vụ chân lý và tự do trong yêu thương.
Chính Đức Giêsu đã từng tuyên bố câu châm ngôn: “Không phải anh em đã chọn thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15,16) ) và câu khác “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9,35).
Cũng vậy, khi Philatô nói có quyền tha chết cho Đức Giêsu, thì Ngài đã khẳng khái trả lời ông: “Ông không có quyền gì trên tôi, nếu Trời không ban cho ông” (Ga 19,11)).
Đối với Đức Giêsu, quyền bính có là do Chúa và quyền bính được thiết lập là để dựng xây công bình và để phục vụ mọi người trong tinh thần bác ái. Người muốn làm đầu thì phải “hầu hạ anh em”, phải “cúi mình rửa chân” cho anh em.
Điều này giúp chúng ta hiểu vì sao mỗi khi nói về quyền bính, Công đồng Vaticanô II thường nhắc các bề trên hãy thi hành quyền bính theo Tin Mừng, bởi vì, bề trên là người được Chúa uỷ thác và giao phó trách nhiệm quản lý linh hồn các bề dưới cũng là anh em mình.
Theo đó, các bề trên “Hãy ngoan ngoãn tuân hành thánh ý Thiên Chúa khi chu toàn bổn phận và hãy thi hành quyền bính trong tinh thần phục vụ anh em, làm sao để chứng minh cho bề dưới thấy mối tình Thiên Chúa đã yêu thương họ.” Bên cạnh đó, khi xử lý công việc, các bề trên cần tôn trọng nhân vị bề dưới, phải đặc biệt để họ được tự do lương tâm, không ép buộc hay nài ép. Trái lại, “Hãy hướng dẫn bề dưới biết cộng tác với tinh thần trách nhiệm, trong những bổn phận phải chu toàn và trong những sáng kiến cần có. Hãy sẵn sàng lắng nghe họ và khuyến khích họ cộng tác” trong tinh thần đức tin. (Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh về Canh tân và Thích nghi đời tu, số 14.)
Như vậy, “quyền bính và vâng phục là hai phương diện bổ túc cho sự tham gia vào hiến lễ cứu độ của Chúa Giêsu”. (Phaolô VI, Chứng tá Phúc âm, # 25) Bề trên là người được mời gọi phục vụ kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa trong anh em mình. Bề dưới được mời gọi sống tuân phục theo gương của Chúa để cộng tác vào công cuộc cứu độ gian trần.
Tuy nhiên, trong thực tế, không biết vì lý do gì, mỗi khi nói tới đời tu, nhiều người lại chỉ nói về sự vâng phục của bề dưới mà ít nói tới quyền và sự vâng phục của bề trên; trong khi đây là một khía cạnh rất quan trọng giúp cho việc sống vâng phục được trọn vẹn cả đôi đàng.
Nói về quyền bính, Sách thánh nhiều lần khẳng định, quyền bính, ngay cả quyền đời, cũng đều xuất phát từ Chúa, và được ban cho không phải để thống trị, nhưng là để phục vụ chân lý và tự do trong yêu thương.
Chính Đức Giêsu đã từng tuyên bố câu châm ngôn: “Không phải anh em đã chọn thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15,16) ) và câu khác “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9,35).
Cũng vậy, khi Philatô nói có quyền tha chết cho Đức Giêsu, thì Ngài đã khẳng khái trả lời ông: “Ông không có quyền gì trên tôi, nếu Trời không ban cho ông” (Ga 19,11)).
Đối với Đức Giêsu, quyền bính có là do Chúa và quyền bính được thiết lập là để dựng xây công bình và để phục vụ mọi người trong tinh thần bác ái. Người muốn làm đầu thì phải “hầu hạ anh em”, phải “cúi mình rửa chân” cho anh em.
Điều này giúp chúng ta hiểu vì sao mỗi khi nói về quyền bính, Công đồng Vaticanô II thường nhắc các bề trên hãy thi hành quyền bính theo Tin Mừng, bởi vì, bề trên là người được Chúa uỷ thác và giao phó trách nhiệm quản lý linh hồn các bề dưới cũng là anh em mình.
Theo đó, các bề trên “Hãy ngoan ngoãn tuân hành thánh ý Thiên Chúa khi chu toàn bổn phận và hãy thi hành quyền bính trong tinh thần phục vụ anh em, làm sao để chứng minh cho bề dưới thấy mối tình Thiên Chúa đã yêu thương họ.” Bên cạnh đó, khi xử lý công việc, các bề trên cần tôn trọng nhân vị bề dưới, phải đặc biệt để họ được tự do lương tâm, không ép buộc hay nài ép. Trái lại, “Hãy hướng dẫn bề dưới biết cộng tác với tinh thần trách nhiệm, trong những bổn phận phải chu toàn và trong những sáng kiến cần có. Hãy sẵn sàng lắng nghe họ và khuyến khích họ cộng tác” trong tinh thần đức tin. (Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh về Canh tân và Thích nghi đời tu, số 14.)
Như vậy, “quyền bính và vâng phục là hai phương diện bổ túc cho sự tham gia vào hiến lễ cứu độ của Chúa Giêsu”. (Phaolô VI, Chứng tá Phúc âm, # 25) Bề trên là người được mời gọi phục vụ kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa trong anh em mình. Bề dưới được mời gọi sống tuân phục theo gương của Chúa để cộng tác vào công cuộc cứu độ gian trần.
Các Tân linh mục DCCT nhận bài sai từ bề trên Dòng tháng 7 năm 2025. Ảnh DCCT
Cùng nhau tìm thánh ý Chúa
Vì thế, tự nó, quyền bính và vâng phục không chống nhau, trái lại vâng phục sẽ làm thăng hoa sự tự do của con người, liên kết con người với thánh ý Thiên Chúa. Trong cuộc tìm kiếm ý của Thiên Chúa, cả bề trên và bề dưới phải đồng tâm nhất trí, “tránh để tâm trí giao động quá mạnh, phải làm thức tỉnh lại nơi cộng đoàn những xác tín về đức tin và đưa những xác tín ấy ra thực hành trong cuộc sống hằng ngày, tuỳ theo những nhu cầu của thời đại chứ không hề đem những xác tín ấy ra xét lại. Nếu những cuộc tìm kiếm chung ấy cần chấm dứt, thì phải được kết thúc với một phán quyết của bề trên” (Ibid.)
Cũng vậy, vì "các Bề trên là người thay mặt Chúa", nên họ phải lấy tinh thần phục vụ mà đối đãi với những người đã được uỷ thác cho mình, “phải tỏ ra sẵn sàng lắng nghe để phân định rành mạch hơn những gì Chúa đợi chờ nơi mỗi người trong số các anh em mình”. Việc đối thoại là cần thiết giữa các bề trên và bề dưới. Bề trên cần phải điều nghiên kỹ lưỡng trước khi đưa ra quyết định và cả 2 đồng trách nhiệm khi thực thi các quyết định đã được ban bố. (Gioan Phaolô II, Hồng ân Cứu chuộc, số 13)
Nói cách khác, “Trong đời sống huynh đệ được Chúa Thánh Thần linh hoạt, mỗi người trân trọng đối thoại với các người khác để tìm ra ý Chúa; đồng thời, tất cả mọi người đều nhận ra nơi người phụ trách hiện thân tình phụ tử của Thiên Chúa, và quyền bính Thiên Chúa trao ban là để dùng vào việc biện phân và hiệp thông” (Gioan Phaolô II, Tông Huấn Đời Sống Thánh Hiến, # 92)
Như vậy, có thể nói rằng, quyền bính và tuân phục phải được đặt trong trật tự cứu độ của Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đã tuyển chọn và uỷ thác cho một số người vai trò của người dẫn đường. Nói cách khác, quyền bính là do Chúa thiết lập để kiến tạo trật tự xã hội và xây dựng nền công lý hoà bình. Vì thế, quyền bính gắn liền với việc phục vụ. Trong trật tự cứu độ cũng vậy. Thiên Chúa dùng những con người làm trung gian để họ phục vụ cho công cuộc cứu độ.
Nói cách khác, quyền bính được thiết lập để minh xác ý định của Thiên Chúa trên cuộc đời của mỗi tu sĩ. Thành ra, không phải chỉ có bề dưới mới phải vâng phục, nhưng tất cả đồng trách nhiệm trong việc đi tìm, biện phân và thực hiện thánh ý Chúa. Tất cả đều được mời gọi dấn thân vào công cuộc kiếm tìm quan trọng này.
Thành ra, quyền bính và tuân phục là hai phương diện khác nhau liên kết mật thiết trong cùng một thực tại. Cả hai đều là phương tiện giúp đạt tới mục đích duy nhất: đó là thông hiệp với ý muốn cứu độ của Thiên Chúa. Quyền bính có là để phục vụ thánh ý Chúa, chứ không phải vì "điều ấy không có lợi cho tôi". Ngược lại, vâng phục có là để thi hành ý Chúa, đón nhận thánh ý dù đó là "chén đắng", là trái ý riêng.
Chính vì điều này mà ta hiểu được tại sao huấn quyền không ngừng nhắc nhở các bề trên phải đối thoại với các bề dưới trước khi đưa ra những quyết định sau cùng. Sở dĩ vậy là bởi vì tuân phục là một hành động tự do, chủ động và có trách nhiệm. Các bề trên cần phải cân nhắc, xem xét trước khi đưa ra những phán quyết về cá nhân mỗi tu sĩ dưới quyền. Phán quyết này phải xuất phát từ lòng mến, trong ý hướng phục vụ cho ơn cứu độ và lợi ích chung của cộng đoàn, chứ không vì ý thức cá nhân, vì sự chủ quan hay chỉ vì "những gì anh làm không có lợi cho tôi."
Cũng vậy, vì "các Bề trên là người thay mặt Chúa", nên họ phải lấy tinh thần phục vụ mà đối đãi với những người đã được uỷ thác cho mình, “phải tỏ ra sẵn sàng lắng nghe để phân định rành mạch hơn những gì Chúa đợi chờ nơi mỗi người trong số các anh em mình”. Việc đối thoại là cần thiết giữa các bề trên và bề dưới. Bề trên cần phải điều nghiên kỹ lưỡng trước khi đưa ra quyết định và cả 2 đồng trách nhiệm khi thực thi các quyết định đã được ban bố. (Gioan Phaolô II, Hồng ân Cứu chuộc, số 13)
Nói cách khác, “Trong đời sống huynh đệ được Chúa Thánh Thần linh hoạt, mỗi người trân trọng đối thoại với các người khác để tìm ra ý Chúa; đồng thời, tất cả mọi người đều nhận ra nơi người phụ trách hiện thân tình phụ tử của Thiên Chúa, và quyền bính Thiên Chúa trao ban là để dùng vào việc biện phân và hiệp thông” (Gioan Phaolô II, Tông Huấn Đời Sống Thánh Hiến, # 92)
Như vậy, có thể nói rằng, quyền bính và tuân phục phải được đặt trong trật tự cứu độ của Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đã tuyển chọn và uỷ thác cho một số người vai trò của người dẫn đường. Nói cách khác, quyền bính là do Chúa thiết lập để kiến tạo trật tự xã hội và xây dựng nền công lý hoà bình. Vì thế, quyền bính gắn liền với việc phục vụ. Trong trật tự cứu độ cũng vậy. Thiên Chúa dùng những con người làm trung gian để họ phục vụ cho công cuộc cứu độ.
Nói cách khác, quyền bính được thiết lập để minh xác ý định của Thiên Chúa trên cuộc đời của mỗi tu sĩ. Thành ra, không phải chỉ có bề dưới mới phải vâng phục, nhưng tất cả đồng trách nhiệm trong việc đi tìm, biện phân và thực hiện thánh ý Chúa. Tất cả đều được mời gọi dấn thân vào công cuộc kiếm tìm quan trọng này.
Thành ra, quyền bính và tuân phục là hai phương diện khác nhau liên kết mật thiết trong cùng một thực tại. Cả hai đều là phương tiện giúp đạt tới mục đích duy nhất: đó là thông hiệp với ý muốn cứu độ của Thiên Chúa. Quyền bính có là để phục vụ thánh ý Chúa, chứ không phải vì "điều ấy không có lợi cho tôi". Ngược lại, vâng phục có là để thi hành ý Chúa, đón nhận thánh ý dù đó là "chén đắng", là trái ý riêng.
Chính vì điều này mà ta hiểu được tại sao huấn quyền không ngừng nhắc nhở các bề trên phải đối thoại với các bề dưới trước khi đưa ra những quyết định sau cùng. Sở dĩ vậy là bởi vì tuân phục là một hành động tự do, chủ động và có trách nhiệm. Các bề trên cần phải cân nhắc, xem xét trước khi đưa ra những phán quyết về cá nhân mỗi tu sĩ dưới quyền. Phán quyết này phải xuất phát từ lòng mến, trong ý hướng phục vụ cho ơn cứu độ và lợi ích chung của cộng đoàn, chứ không vì ý thức cá nhân, vì sự chủ quan hay chỉ vì "những gì anh làm không có lợi cho tôi."
Đức giám mục giáo phận Hà Tĩnh trao bài sai cho các chủng sinh đi thực tập mục vụ. Ảnh: Giáo phận Hà Tĩnh
Sai lầm khi quyết định
Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, “Trong khi thực hiện các chương trình của Người, Thiên Chúa thường xét đến điều kiện nhân loại. Khi ban quyền cho các bề trên, Người vẫn tha phép để nhiều sai sót của họ xảy ra nhưng vẫn buộc phải tuân phục cho dầu các sai sót ấy có hiển nhiên đi nữa”. (Elio Gambari, Religious Life – According to Vatican II and the new Code of Canon Law, bản dịch Việt Ngữ, trang 399).
Nói cách khác, sau khi đã trao đổi, bề trên là người ra quyết định cuối cùng. Nếu quyết định ấy có trái ngược với ước muốn cá nhân của tu sĩ thì tu sĩ phải lấy đức tin, lòng kính trọng và yêu mến mà vâng phục (x.1Tx 5, 12-13).
Về vấn đề này, cha Jean Galot S.J cho rằng mối tương quan giữa quyền bính và vâng phục là vấn đề của lương tâm, đặt ra cho bề trên và cả bề dưới.
Đối với các bề trên, họ “phải mở lòng đón nhận ánh sáng bởi trời, tìm hiểu kế hoạch của Thiên Chúa đối với cộng đoàn và đối với mỗi phần tử trong cộng đoàn và trung tín làm theo kế hoạch đó”. Nếu bề trên không cố gắng đủ để tìm ý Thiên Chúa hoặc để đam mê hay tư lợi lôi kéo lạc xa đường lối Chúa, vị ấy phải chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa về quyết định sai lầm của mình.
Đối với bề dưới thì khác, họ không có quyền can thiệp vào những bó buộc lương tâm của bề trên, cũng không có quyền xét xử bề trên hay chối bỏ tư cách đại diện Thiên Chúa của bề trên. Trái lại, họ phải vui lòng thực thi mệnh lệnh mà bề trên đã uỷ thác cho, dù lệnh truyền ấy không thích hợp hay tai hại, trừ những nố "mâu thuẫn hẳn với những nguyên tắc của đời sống Kitô hữu hoặc cố tình áp đặt một hành động trái với lương tâm."
Sở dĩ như vậy là bởi vì “trong giao ước ký kết với tu sĩ, Chúa đoan chắc sẽ hướng dẫn đời sống của họ bằng những lệnh truyền của bề trên. Ngài ban cho bảo đảm tuyệt đối rằng, những lệnh ấy, dầu thế nào đi chăng nữa đều được hội nhập vào kế hoạch quan phòng của Thiên Chúa. Do hiệu quả của bảo đảm ấy, trong trường hợp bề trên sai lầm khi ra lệnh, thì tu sĩ vẫn không sai lầm khi vâng phục, vì Thiên Chúa dùng cả cái sai lầm đó để hướng dẫn họ". (J. Galot, Tin và Tận Hiến, tr. 94)
Nói cách khác, sau khi đã trao đổi, bề trên là người ra quyết định cuối cùng. Nếu quyết định ấy có trái ngược với ước muốn cá nhân của tu sĩ thì tu sĩ phải lấy đức tin, lòng kính trọng và yêu mến mà vâng phục (x.1Tx 5, 12-13).
Về vấn đề này, cha Jean Galot S.J cho rằng mối tương quan giữa quyền bính và vâng phục là vấn đề của lương tâm, đặt ra cho bề trên và cả bề dưới.
Đối với các bề trên, họ “phải mở lòng đón nhận ánh sáng bởi trời, tìm hiểu kế hoạch của Thiên Chúa đối với cộng đoàn và đối với mỗi phần tử trong cộng đoàn và trung tín làm theo kế hoạch đó”. Nếu bề trên không cố gắng đủ để tìm ý Thiên Chúa hoặc để đam mê hay tư lợi lôi kéo lạc xa đường lối Chúa, vị ấy phải chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa về quyết định sai lầm của mình.
Đối với bề dưới thì khác, họ không có quyền can thiệp vào những bó buộc lương tâm của bề trên, cũng không có quyền xét xử bề trên hay chối bỏ tư cách đại diện Thiên Chúa của bề trên. Trái lại, họ phải vui lòng thực thi mệnh lệnh mà bề trên đã uỷ thác cho, dù lệnh truyền ấy không thích hợp hay tai hại, trừ những nố "mâu thuẫn hẳn với những nguyên tắc của đời sống Kitô hữu hoặc cố tình áp đặt một hành động trái với lương tâm."
Sở dĩ như vậy là bởi vì “trong giao ước ký kết với tu sĩ, Chúa đoan chắc sẽ hướng dẫn đời sống của họ bằng những lệnh truyền của bề trên. Ngài ban cho bảo đảm tuyệt đối rằng, những lệnh ấy, dầu thế nào đi chăng nữa đều được hội nhập vào kế hoạch quan phòng của Thiên Chúa. Do hiệu quả của bảo đảm ấy, trong trường hợp bề trên sai lầm khi ra lệnh, thì tu sĩ vẫn không sai lầm khi vâng phục, vì Thiên Chúa dùng cả cái sai lầm đó để hướng dẫn họ". (J. Galot, Tin và Tận Hiến, tr. 94)
