Behold God’s Providence
- Tham gia
- 17/12/23
- Bài viết
- 1,674
- Chủ đề Author
- #1
Khi thế giới bị cuốn vào những xung đột, chủ nghĩa tiêu dùng và những cơn phẫn nộ không dứt, người Kitô hữu được mời gọi trở lại với công ích, phẩm giá con người và một đời sống nhất quán với điều mình tuyên xưng.
Ảnh: TGP Hà Nội
Đời sống công cộng tại nhiều nơi ngày càng bị chi phối bởi sự đối đầu. Chính trị, thay vì trở thành phương thế tổ chức xã hội và tìm kiếm lợi ích chung, thường biến thành cuộc tranh đấu nhằm hạ bệ đối thủ, huy động giận dữ và củng cố những ranh giới chia rẽ.
Trước bầu khí ấy, nhiều người tìm cách rút lui vào giải trí, mạng xã hội hoặc những không gian riêng tư, nơi họ không phải đối diện với các cuộc tranh luận căng thẳng và những thông tin gây bất an. Mong muốn tìm một nơi bình yên là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, đối với người Kitô hữu, hoàn toàn quay lưng với đời sống xã hội không phải là một lựa chọn.
Đức tin Kitô giáo không chỉ liên quan đến đời sống riêng tư. Người tín hữu được mời gọi trở thành men trong thế giới, góp phần xây dựng một trật tự xã hội công bằng và nhân bản hơn. Điều đó đòi hỏi họ phải hiện diện trong đời sống công cộng, nhưng không theo lối kích động hận thù hoặc tuyệt đối hóa quyền lực chính trị.
Sự dấn thân ấy ngày càng khó khăn vì nhiều khái niệm nền tảng đang được hiểu theo những cách rất khác nhau. Những từ ngữ như “công ích”, “phẩm giá”, “tự do” hay “quyền con người” vẫn được sử dụng rộng rãi, nhưng không còn luôn mang cùng một nội dung.
Theo tư tưởng xã hội Kitô giáo, hoạt động chính trị phải dựa trên ba nguyên tắc căn bản: phục vụ công ích, tôn trọng phẩm giá của từng con người và sắp xếp các ưu tiên theo một trật tự luân lý đúng đắn.
Công ích không thể bị giản lược thành việc tạo ra nhiều của cải hơn hoặc đáp ứng tối đa những mong muốn cá nhân. Nó bao gồm các điều kiện xã hội giúp con người, gia đình và cộng đồng phát triển toàn diện, cả về vật chất, tinh thần lẫn luân lý. Tuy nhiên, công ích cũng không thể được dùng làm lý do để chà đạp cá nhân. Một xã hội không thể tự nhận là đang phục vụ số đông nếu nó bóc lột người nghèo, bỏ rơi người yếu thế hoặc coi một số mạng sống là ít giá trị hơn những mạng sống khác.
Ngược lại, tự do cá nhân cũng không phải là quyền tuyệt đối để thực hiện mọi ham muốn. Những lựa chọn gây tổn hại nghiêm trọng cho người khác, cho gia đình hoặc cho nền tảng đạo đức của cộng đồng không thể đương nhiên được xem là quyền bất khả xâm phạm.
Sự cân bằng giữa cá nhân và cộng đồng trở nên đặc biệt quan trọng khi xã hội đối diện với các vấn đề như nghèo đói, y tế, di cư, lao động, môi trường và sự bất bình đẳng. Mỗi vấn đề đều đòi hỏi những chính sách công bằng, nhân đạo và có trách nhiệm.
Nhưng trong trật tự ấy, quyền sống vẫn giữ vị trí nền tảng. Nếu mạng sống con người không được bảo vệ từ khi bắt đầu cho đến lúc kết thúc tự nhiên, những quyền khác rất dễ trở thành các tuyên bố đẹp đẽ nhưng thiếu nền móng thực tế. Một xã hội có thể nói nhiều về phẩm giá, nhưng lời nói ấy trở nên mâu thuẫn nếu người yếu nhất, người chưa được sinh ra, người khuyết tật, người bệnh nặng hoặc người già bị coi như gánh nặng có thể loại bỏ.
Thách thức không chỉ đến từ các quyết định chính trị. Nó còn bắt nguồn từ một nền văn hóa ngày càng duy vật và bị dẫn dắt bởi tiêu dùng. Thành công thường được đo bằng tài sản, tiện nghi, khả năng hưởng thụ và mức độ được chú ý.
Trong bối cảnh đó, con người dễ tin rằng mọi vấn đề đều có thể được giải quyết bằng công nghệ, tiền bạc hoặc những phương thức nhanh chóng. Đau khổ phải được loại bỏ ngay lập tức, sự chờ đợi bị coi là vô nghĩa, còn hy sinh thường bị xem như một thất bại.
Nhưng những nhu cầu sâu xa nhất của con người không thể được đáp ứng bằng hàng hóa. Con người cần được yêu thương, cần tình bạn, sự thuộc về, lòng trung thành và một mục đích sống vượt lên trên lợi ích tức thời.
Sự thịnh vượng vật chất, dù cần thiết, không tự động tạo ra một xã hội tốt đẹp. Nếu không đi kèm trách nhiệm, tiết chế và lòng biết ơn, nó có thể nuôi dưỡng sự ích kỷ, thờ ơ và ảo tưởng rằng con người hoàn toàn tự đủ.
Đây là lý do truyền thống Kitô giáo nhấn mạnh đến khiêm nhường, khổ chế và hoán cải cá nhân. Những điều đó không nhằm phủ nhận niềm vui hoặc thành tựu của con người, nhưng giúp đặt chúng vào đúng vị trí.
Đoàn người đông đảo tại mộ Chân Phước Trương Bửu Diệp, người đã dấn thân,"chết để đoàn chiên được sống". Ảnh: Giáo phận Cần thơ
Ngay giữa một thế giới đầy căng thẳng, vẫn có những lý do để hy vọng. Con người không thể sống mãi bằng giận dữ. Sự phẫn nộ có thể huy động đám đông trong một thời gian, nhưng nó dần làm cạn kiệt đời sống nội tâm và phá vỡ các mối quan hệ.
Con người được dựng nên để yêu thương và được yêu thương. Khát vọng hướng về vẻ đẹp, tình bạn, gia đình và sự sống mới cho thấy trong mỗi người vẫn tồn tại một cơn đói tinh thần mà quyền lực và vật chất không thể thỏa mãn. Đức Bênêđictô XVI từng trình bày sự tham gia của người Kitô hữu vào đời sống xã hội như một biểu hiện của đức ái và công lý. Theo cách hiểu ấy, chính trị không chỉ là giành quyền lực, nhưng còn là một hình thức phục vụ con người, cộng đồng và những người dễ bị bỏ quên.
Vì thế, hành động chính trị mạnh mẽ nhất của người Kitô hữu không nhất thiết bắt đầu từ diễn đàn, đảng phái hay khẩu hiệu. Nó bắt đầu từ việc sống nhất quán với điều mình tin. Một người tôn trọng sự sống, giữ lời hứa, chăm sóc người yếu thế, từ chối tham nhũng và không để hận thù chi phối đã góp phần thay đổi xã hội, dù tác động ấy không lập tức xuất hiện trên các dòng tin. Sự thay đổi ấy thường diễn ra chậm, âm thầm và không ngoạn mục. Nhưng nó có thể đi sâu hơn bất kỳ chiến dịch chính trị nào, bởi nó bắt đầu từ lương tâm, lan sang gia đình rồi tác động đến cộng đồng.
Cuối cùng, người Kitô hữu không được đánh giá chủ yếu bởi những khẩu hiệu đã bảo vệ hay những phe phái đã ủng hộ, nhưng bởi cách họ đã sống đức tin, yêu thương tha nhân và phục vụ công ích trong những lựa chọn cụ thể mỗi ngày.
Phải làm gì?
Docat 310: Tại sao tôi nên tham gia với phong cách rõ ràng là “Kitô hữu”?
Nhiều người nói rằng: Điều chính yếu là trở thành một người tốt! Cần gì phải thêm đặc tính “Kitô hữu” vào đó? Tuy nhiên, lịch sử cho thấy đó chỉ là chủ nghĩa nhân văn thuộc loại vô thần thường bỏ mặc con người trong trạng thái chao đảo, hoang mang. Chỉ ở nơi Thiên Chúa thì “những gì là con người” mới được thăng tiến tốt hơn. Chỉ ở trong ánh sáng của Chúa Kitô chúng ta mới có thể hiểu đúng những gì là con người (x. GS 22). Những ai làm theo ý Thiên Chúa đều thể hiện mối quan tâm thật sự về con người, một cách chính xác trong những lĩnh vực mà con người yếu đuối, phụ thuộc vào sự giúp đỡ, và dường như “vô dụng”. Mặc dù một vài lãnh đạo Giáo Hội đôi khi làm sai lệch và phản bội thánh ý Thiên Chúa, Thiên Chúa vẫn làm cho Giáo Hội thành một nơi mà
Cùng chủ đề
