Tủ sách J.H. Newman: Giáo hội là gì? Communio, Concilium, và vấn đề của giáo hội ở Việt Nam

  • Chủ đề Author

Tôi nghĩ rằng nếu phải tìm một câu hỏi nằm ở tâm chấn của hầu hết mọi tranh cãi trong Giáo hội Công giáo sau Công đồng Vatican II thì đó không phải là câu hỏi về phụng vụ, về luân lý, về thẩm quyền, về quyền của phụ nữ, về dân chủ trong Giáo hội, hay thậm chí về tương quan giữa Giáo hội và thế giới hiện đại. Tất cả những vấn đề đó, như Joseph Ratzinger, người về sau là Đức Giáo tông Benedict XVI, thường nhấn mạnh, đều chỉ là hệ quả của một câu hỏi sâu hơn: Giáo hội là gì?


phailamgi_Tủ sách J.H. Newman Giáo hội là gì Communio, Concilium, và vấn đề của giáo hội ở Việ...jpg

Đức Hồng y Tagle và quí giám mục dâng thánh lễ kính thánh Tôma Tông đồ tại nhà thờ lớn Hà Nội ngày 3/7/2026. Ảnh: TGP. Hà Nội

Câu hỏi này có vẻ là một câu hỏi trừu tượng. Nhưng thật ra, nó là câu hỏi quyết định tất cả, vì một khi người ta hiểu giáo hội theo một cách khác thì người ta sẽ nhìn mọi vấn đề khác theo cách khác.

Nếu giáo hội trước hết là một định chế thì cải tổ sẽ có nghĩa là thay đổi cơ cấu. Nếu giáo hội trước hết là một cộng đồng dân chủ thì cải tổ sẽ có nghĩa là phân phối lại quyền lực. Nếu giáo hội trước hết là một tổ chức xã hội thì nhiệm vụ của giáo hội sẽ là can thiệp vào các vấn đề công bằng, nghèo đói, nhân quyền, hòa bình, môi trường, và mọi vấn đề khác của thế giới hiện đại. Nếu giáo hội trước hết là một nơi chữa lành tâm lý và nâng đỡ tinh thần thì giáo hội sẽ trở thành một thứ dịch vụ trị liệu. Nếu giáo hội trước hết là một cộng đồng bản sắc văn hóa thì giáo hội sẽ rất dễ biến thành một hình thức chính trị căn cước.

Joseph Ratzinger cho rằng phần lớn khủng hoảng của giáo hội hậu-Công đồng nằm ở chỗ người ta nói về “giáo hội” nhưng lại giả định những điều hoàn toàn khác nhau về giáo hội. Theo ông, giáo hội không phải là thực thể chúng ta tạo ra, tổ chức ra, bỏ phiếu ra, hay tái thiết kế theo nhu cầu của thời đại. Giáo hội là thực thể được trao ban. Giáo hội phát sinh từ Đức Ki-tô, được quy tụ bởi Ngôi Lời và bí tích, được sống bởi Chúa Thánh Thần, và được mời gọi đi vào hiệp thông với chính đời sống Ba Ngôi. Nói cách khác, giáo hội không chỉ là một cơ cấu, mà là một mầu nhiệm; không chỉ là một tổ chức, mà là một bí tích; không chỉ là một tập hợp xã hội, mà là Thân Thể Đức Ki-tô.

Và từ đây, một lằn ranh lớn bắt đầu xuất hiện trong giáo hội học hậu-Vatican II.

07.jpg
Lễ phong chức giám mục Phụ tá TGP. Sài Gòn, 23/6/2026. Ảnh: TGP. Sài Gòn

Communio và Concilium​

Có thể nói rằng cuộc tranh luận lớn nhất trong giáo hội hậu-Công đồng không phải là tranh luận giữa “cấp tiến” và “bảo thủ” theo nghĩa chính trị xã hội thông thường mà là tranh luận giữa hai cách hiểu về giáo hội. Một cách hiểu nhìn giáo hội chủ yếu “từ dưới lên”. Theo cách nhìn này, giáo hội trước hết là Dân Thiên Chúa, là cộng đồng lịch sử, là tập thể các tín hữu đang cùng nhau bước đi trong lịch sử. Từ đó, người ta nhấn mạnh đến tham dự, đối thoại, cải tổ, phân quyền, tính địa phương, tính đa nguyên, kinh nghiệm lịch sử, và việc thích nghi với thế giới hiện đại. Một cách hiểu khác nhìn giáo hội chủ yếu “từ trên xuống”. Theo cách nhìn này, giáo hội trước hết là hiệp thông trong Đức Ki-tô, là bí tích cứu độ, là cộng đoàn được sinh ra từ Thánh Thể, là quà tặng trước khi là công việc, là thực thể được lãnh nhận trước khi là thực thể được xây dựng.

Chính từ đây xuất hiện sự phân cực Communio–Concilium, tên gọi của hai tập san thần học hàng đầu của giáo hội sau Vatican II. Concilium, với những khuôn mặt như Hans Küng, Karl Rahner, Edward Schillebeeckx, có khuynh hướng nhìn Công đồng Vatican II như khởi đầu của một tiến trình hiện đại hóa chưa hoàn tất. Theo họ, giáo hội phải trở nên đối thoại hơn, dân chủ hơn, ít giáo sĩ trị hơn, nhạy cảm hơn với kinh nghiệm lịch sử, cởi mở hơn với văn hóa hiện đại, và can dự hơn vào những vấn đề xã hội. Ngược lại, Communio, với những tên tuổi như Joseph Ratzinger, Henri de Lubac, Hans Urs von Balthasar, Louis Bouyer, không phủ nhận Vatican II, nhưng phản đối cách hiểu cho rằng Công đồng là một sự đứt gãy với truyền thống. Theo họ, Vatican II phải được đọc dưới ánh sáng của những phạm trù sâu hơn: hiệp thông, Thánh Thể, mặc khải, phụng vụ, truyền thống, sứ mạng, sự thánh thiện.

Tên gọi của hai khuynh hướng này thật ra đã nói lên rất nhiều. “Concilium” nghĩa là công đồng, hội nghị, thảo luận, biểu quyết, tiến trình lịch sử. “Communio” nghĩa là hiệp thông: hiệp thông với Thiên Chúa, hiệp thông với nhau, hiệp thông trong Thánh Thể, hiệp thông trong cùng một đức tin và cùng một đời sống bí tích. Ratzinger từng nói rằng công đồng là điều giáo hội “làm” chứ không phải điều giáo hội “là”. Giáo hội có thể triệu tập công đồng nhưng bản chất của giáo hội không phải là công đồng mà là hiệp thông. Và điều này dẫn đến hai cách rất khác nhau trong việc hiểu vai trò của giáo hội trong thế giới hiện đại.

011.jpg
Đức Giám mục Phụ tá TGP. Hà Nội trong nghi thức tuyên xứng đức tin. Ảnh: TGP. Hà Nội

Giáo hội trong thế giới hiện đại​

Theo khuynh hướng Concilium, giáo hội trước hết tồn tại vì thế giới. Điều này không có nghĩa là Thiên Chúa không còn ở trung tâm, nhưng nó có nghĩa rằng người ta hiểu căn tính của giáo hội chủ yếu từ tương quan của giáo hội với lịch sử, với xã hội, với những đau khổ và khát vọng của con người hiện đại. Giáo hội, trong cách nhìn này, phải đọc các dấu chỉ thời đại, phải lắng nghe thế giới, phải đối thoại với thế giới, và phải học cách nói thứ ngôn ngữ mà con người hiện đại có thể hiểu được. Và vì thế, những từ khóa xuất hiện thường xuyên trong cách tiếp cận này là nhân quyền, công bằng xã hội, dân chủ, hòa bình, đối thoại liên tôn, phẩm giá con người, giải phóng người nghèo, cải tổ cơ cấu, phân quyền, vai trò của giáo dân, và sự thích nghi với các nền văn hóa địa phương. Người ta lo ngại rằng nếu giáo hội tiếp tục nói bằng ngôn ngữ cũ, tiếp tục vận hành bằng những cơ cấu cũ, tiếp tục khép kín trong những giả định cũ thì giáo hội sẽ ngày càng trở nên xa lạ với thế giới hiện đại, và cuối cùng sẽ mất đi khả năng truyền báo tin mừng.

Điều này đúng, nhưng chưa đủ. Bởi vì nếu giáo hội chỉ còn được định nghĩa bởi sự can dự vào thế giới thì rất dễ xảy ra chuyện giáo hội trở thành một tổ chức nhân đạo, một tổ chức xã hội dân sự, hay một phiên bản tôn giáo của chủ nghĩa cấp tiến thế tục. Khi đó, giáo hội vẫn còn nói về người nghèo, vẫn còn nói về chiến tranh, vẫn còn nói về môi trường, bất công, và nhân quyền, nhưng điều làm cho giáo hội khác với những tổ chức khác sẽ dần dần biến mất. Người ta sẽ bắt đầu tự hỏi: nếu giáo hội chỉ nói cùng một thứ ngôn ngữ với thế giới, chỉ bảo vệ cùng những giá trị mà thế giới cũng đang bảo vệ thì tại sao người ta cần đến giáo hội?

Đó là nỗi lo lớn của Ratzinger. Theo Communio, giáo hội không tồn tại trước hết để giải quyết các vấn đề xã hội. Giáo hội tồn tại trước hết để làm cho Đức Ki-tô hiện diện trong thế giới. Điều này không có nghĩa là giáo hội quay lưng với thế giới, càng không có nghĩa là giáo hội được phép thờ ơ trước nghèo đói, bất công, chiến tranh, bóc lột hay đau khổ của con người. Nhưng nó có nghĩa rằng giáo hội không bắt đầu từ thế giới rồi mới đi đến Thiên Chúa; giáo hội bắt đầu từ Thiên Chúa rồi mới đi đến với thế giới.

Nói cách khác, theo Communio, giáo hội thay đổi thế giới sâu xa nhất không phải bằng cách trở nên ngày càng giống thế giới, mà bằng cách trở nên ngày càng là chính mình hơn. Giáo hội phải bắt đầu từ phụng vụ, từ Thánh Thể, từ bí tích, từ đời sống cầu nguyện, từ mặc khải, từ việc đào tạo con người trong đức tin và trong sự thánh thiện. Bởi vì nếu con người không được biến đổi từ bên trong, nếu con người không được đưa vào trong tương quan với Thiên Chúa thì cuối cùng mọi cải tổ xã hội cũng sẽ chỉ là tạm thời.

Điều này có nghĩa rằng phẩm giá con người không chỉ được bảo vệ vì lý do nhân đạo, mà vì con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Công bằng xã hội không chỉ quan trọng vì nó giúp xã hội ổn định hơn, mà vì bất công là xúc phạm đến chính phẩm giá siêu việt của con người. Hòa bình không chỉ là việc tránh chiến tranh, mà là trật tự của công lý và sự hòa giải. Quyền con người không chỉ là một phạm trù pháp lý, mà là một hệ quả của nhân học Ki-tô giáo.

Nhưng vấn đề là Communio cũng có thể bị hiểu sai. Nếu tách khỏi đời sống thực tế, nếu tách khỏi những đau khổ cụ thể của con người, nếu chỉ nhấn mạnh đến phụng vụ, tín lý, bí tích, và sự thánh thiện mà không quan tâm đủ đến người nghèo, đến sự bất công, đến những vết thương của xã hội thì Communio rất dễ trở thành một thứ nội hướng, khép kín, thậm chí là giáo sĩ trị. Khi đó, giáo hội có thể giữ được bản sắc của mình, nhưng lại không còn biết nói gì với thế giới.

Và vì thế, có thể nói rằng Concilium lo giáo hội trở thành pháo đài; Communio lo giáo hội tan biến vào thế giới. Cả hai nỗi lo đều có phần đúng. Và có lẽ chính vì thế mà cuộc tranh luận này vẫn còn tồn tại cho đến hôm nay.

02.jpeg
Các tu sĩ, chủng sinh TGP. Hà Nội. Ảnh: TGP. Hà Nội

Hệ quả thực tiễn của hai cách hiểu​

Điều đáng lưu ý là Communio và Concilium không chỉ đưa đến hai cách hiểu khác nhau về giáo hội trên bình diện lý thuyết. Chúng còn đưa đến hai trực giác và tập quán rất khác nhau trong đời sống mục vụ, trong cách điều hành giáo xứ, trong cách hiểu vai trò của linh mục, giáo dân, giám mục, và ngay cả trong cách người ta hình dung thế nào là “một giáo hội lành mạnh”.

Nếu đi theo cách nhìn Concilium thì một giáo phận hay một giáo xứ lành mạnh sẽ là một giáo phận hay giáo xứ có nhiều tham dự hơn, nhiều tiếng nói hơn, nhiều hội đồng hơn, nhiều đối thoại hơn, nhiều cơ chế minh bạch hơn, nhiều sự hiện diện xã hội hơn. Người ta sẽ quan tâm đến việc giáo dân có được tham dự vào quá trình quyết định hay không, phụ nữ có vai trò gì hay không, giới trẻ có được lắng nghe hay không, người nghèo có được hiện diện trong đời sống giáo hội hay không, và các cơ cấu của giáo hội có đủ linh hoạt để đáp ứng những thay đổi của xã hội hay không.

Trong cách nhìn này, linh mục không còn chỉ là người cử hành bí tích hay giảng dạy tín lý. Linh mục còn là người điều phối, người tổ chức, người tạo điều kiện để cộng đoàn có thể cùng nhau phân định. Giám mục không chỉ là người bảo vệ đức tin, mà còn là người biết lắng nghe, biết kết nối, biết tạo ra không gian đối thoại. Giáo dân không còn chỉ là người “đi lễ”, mà trở thành chủ thể của đời sống giáo hội.

Điều này có mặt tích cực của nó. Nó giúp giáo hội bớt giáo sĩ trị hơn, bớt lệ thuộc vào một vài cá nhân hơn, bớt khép kín hơn. Nó giúp người ta nhận ra rằng giáo hội không chỉ thuộc về hàng giáo sĩ, mà thuộc về tập thể Dân Chúa. Nó giúp cho giáo dân trưởng thành hơn, có trách nhiệm hơn, và cảm thấy rằng mình thật sự có chỗ đứng trong Giáo hội.

Nhưng như đã nói, cách nhìn này cũng có rủi ro của nó. Khi người ta quá nhấn mạnh đến cơ cấu, đến tiến trình, đến đối thoại, đến hội đồng, đến sự tham dự thì rất dễ xảy ra chuyện giáo hội bị hiểu như một tổ chức chính trị hay một tổ chức xã hội. Người ta có thể bắt đầu đánh giá giáo hội bằng những tiêu chuẩn vốn thuộc về thế giới hiện đại: mức độ dân chủ, mức độ minh bạch, mức độ đại diện, mức độ hiệu quả. Và rồi, điều làm cho giáo hội trở nên khác biệt – bí tích, phụng vụ, đời sống cầu nguyện, sự thánh thiện, sự trung thành với mặc khải – sẽ dần dần lùi vào phía sau.

Ngược lại, nếu đi theo cách nhìn Communio thì một giáo xứ hay một giáo phận lành mạnh sẽ được hiểu theo một cách khác. Người ta sẽ hỏi: cộng đoàn này có sống Thánh Thể thật sự hay không? Có cầu nguyện thật sự hay không? Có được đào tạo thần học nghiêm túc hay không? Có đời sống bí tích sâu sắc hay không? Có tạo ra những con người trưởng thành trong đức tin, có khả năng sống ơn gọi Ki-tô hữu giữa thế giới hay không?

Trong cách nhìn này, linh mục trước hết không phải là người quản trị, mà là người cha thiêng liêng, người gìn giữ sự hiệp nhất, người dẫn cộng đoàn đến với Đức Ki-tô. Giám mục không phải là một nhà điều hành, mà là dấu chỉ hữu hình của sự hiệp thông giữa giáo hội địa phương và giáo hội hoàn vũ. Giáo dân cũng không được hiểu chỉ như lực lượng phụ giúp cho giáo xứ, mà là những người đã lãnh nhận bí tích Rửa tội, đã được mời gọi nên thánh, và có trách nhiệm đem Tin mừng vào trong gia đình, nghề nghiệp, xã hội, văn hóa.

Điều này cũng có mặt tích cực rất lớn của nó. Nó giúp giáo hội giữ được căn tính riêng của mình. Nó giúp giáo hội nhớ rằng điều quan trọng nhất không phải là cơ cấu có hiện đại hay không, mà là con người có được biến đổi hay không. Nó giúp giáo hội tránh bị đồng hóa với những ý thức hệ chính trị hay những trào lưu văn hóa của thời đại.

Nhưng, như đã nói, Communio cũng có rủi ro của nó. Nếu bị hiểu sai, nó rất dễ trở thành một thứ nội hướng, một thứ sùng tín phụng vụ không can dự gì đến đời sống xã hội, một thứ thiêng liêng hóa các vấn đề đến mức người ta không còn thấy người nghèo, không còn thấy bất công, không còn thấy những đau khổ cụ thể của con người. Và tệ hơn nữa, trong những bối cảnh như Việt Nam, nó còn rất dễ bị biến thành một lớp vỏ thần học để che phủ cho giáo sĩ trị. Người ta có thể nhân danh “hiệp thông” để đòi hỏi sự vâng lời tuyệt đối. Người ta có thể nhân danh “truyền thống” để tránh mọi cuộc đối thoại khó khăn. Người ta có thể nhân danh “bảo vệ đức tin” để tránh mọi suy tư mới. Và khi đó, Communio không còn là hiệp thông nữa, mà trở thành một hình thức tập quyền mang ngôn ngữ tôn giáo.

Và vì thế, cả hai cách nhìn đều có điểm mạnh và điểm yếu của mình. Concilium giúp giáo hội mở cửa ra với thế giới, nhưng có nguy cơ làm giáo hội tan biến vào thế giới. Communio giúp giáo hội giữ được căn tính siêu việt của mình, nhưng có nguy cơ làm giáo hội khép kín vào chính mình.

Vấn đề, như Ratzinger thường nhấn mạnh, không phải là chọn một trong hai rồi loại bỏ hoàn toàn bên kia. Vấn đề là thứ tự. Giáo hội phải bắt đầu từ hiệp thông với Thiên Chúa, bởi vì nếu không có điều đó thì mọi cuộc đối thoại với thế giới cuối cùng sẽ chỉ là sự đầu hàng trước thế giới. Nhưng đồng thời, hiệp thông thật sự với Thiên Chúa cũng phải dẫn đến việc dấn thân cho công lý, cho người nghèo, cho sự thật, cho hòa bình, và cho đời sống của xã hội. Nếu không, hiệp thông cũng sẽ trở thành một thứ đạo đức khép kín.

05.jpg

Lằn ranh vẫn còn nguyên vẹn​

Điều đáng lưu ý khác nữa là sự phân cực giữa Communio và Concilium không biến mất sau những thập niên đầu hậu Vatican II. Nó vẫn còn nguyên đó trong giáo hội hôm nay, dù không còn mang đúng những tên gọi cũ. Ngày nay, người ta ít nói trực tiếp về Communio và Concilium nhưng những cuộc tranh luận trong giáo hội vẫn thường đi theo chính lằn ranh đó. Khi người ta tranh luận về hiệp hành, về vai trò của giáo dân, về thẩm quyền của Rome, về phụng vụ, về luân lý tính dục, về vai trò của phụ nữ, về phân quyền cho các giáo hội địa phương, hay về cách đối thoại với thế giới hiện đại thì thật ra người ta đang tranh luận về một câu hỏi sâu hơn: giáo hội là gì?

Một phía thường có xu hướng xem giáo hội như một cộng đồng lịch sử đang không ngừng học hỏi từ kinh nghiệm của con người, và vì thế giáo hội phải tiếp tục thích nghi, thay đổi, phân quyền, mở rộng đối thoại, và lắng nghe nhiều hơn. Phía còn lại thường có xu hướng xem giáo hội như một thực tại đã được trao ban, và vì thế giáo hội không thể tái định nghĩa chính mình mà không đánh mất căn tính.

Có thể nói rằng nhiều cuộc tranh luận hiện nay giữa những người ủng hộ tính hiệp hành mạnh mẽ và những người lo lắng về sự rõ ràng tín lý thật ra chỉ là phiên bản mới của sự phân cực Communio–Concilium. Một bên sợ rằng nếu không thay đổi thì giáo hội sẽ trở nên cứng nhắc, khép kín, giáo sĩ trị, và đánh mất khả năng truyền báo tin mừng cho con người hiện đại. Một bên khác sợ rằng nếu thay đổi quá nhiều thì giáo hội sẽ dần dần tan biến vào trong thế giới, đánh mất tính liên tục với truyền thống, và cuối cùng không còn gì để trao cho con người ngoài những khẩu hiệu mà thế giới cũng đã có sẵn.

Điều này đặc biệt rõ trong các cuộc tranh luận quanh tông triều của Giáo tông Francis. Những nhấn mạnh của ngài về hiệp hành, đối thoại, lắng nghe, tính địa phương, việc đồng hành mục vụ, và việc đi ra vùng ngoại biên thường được đón nhận tích cực bởi những người mang trực giác gần với Concilium. Trong khi đó, những người chịu ảnh hưởng của Ratzinger thường lo rằng nếu giáo hội được định nghĩa quá nhiều bởi tiến trình, bởi đối thoại, bởi phân quyền thì cuối cùng giáo hội sẽ đánh mất tính hiệp nhất, tính bí tích, và sự rõ ràng của tín lý.

Nhưng thật ra, cả hai bên đều đang cố gắng bảo vệ một điều gì đó có thật. Những người mang trực giác Concilium muốn bảo vệ sự cởi mở, sự gần gũi với thế giới, sự nhạy cảm trước đau khổ của con người, và khả năng của giáo hội trong việc nói một ngôn ngữ mà thế giới hiện đại có thể hiểu được. Những người mang trực giác Communio muốn bảo vệ chiều kích siêu việt của giáo hội, tính liên tục của truyền thống, tính trung tâm của phụng vụ và bí tích, và ý tưởng rằng giáo hội không thể lấy căn tính của mình từ thế giới.

Và vì thế, có lẽ sự phân cực này sẽ còn tồn tại rất lâu. Bởi vì nó không chỉ là sự khác biệt giữa hai trường phái thần học. Nó là sự khác biệt giữa hai trực giác sâu xa về giáo hội. Một bên sợ giáo hội trở thành pháo đài. Một bên sợ giáo hội tan biến vào thế giới. Và cả hai nỗi lo vẫn còn nguyên đó.

09.jpg
Hội đồng Giám mục Việt Nam hành hương Ad Limina năm 2026

Vấn đề của giáo hội ở Việt Nam​

Đến đây, vấn đề trở nên một thách đố khi áp dụng vào giáo hội ở Việt Nam. Thoạt nhìn, giáo hội ở Việt Nam là một giáo hội hậu-Công đồng. Phụng vụ bằng tiếng Việt, giáo dân tham dự, có hội đồng mục vụ, có phong trào giáo dân, có những ngôn ngữ về “dân Chúa”, “hiệp hành”, “sứ vụ”, “đối thoại”, “phục vụ”.

Nhưng dưới bề mặt, giáo hội ở Việt Nam vẫn còn mang rất nhiều đặc điểm của một giáo hội tiền-Công đồng, thậm chí là một giáo hội mang tính “hậu kỳ trung đại”. Sự lệ thuộc quá mức vào linh mục, đời sống giáo xứ xoay quanh cha sở, giáo sĩ trị, sự thiếu vắng đào tạo thần học cho giáo dân, sự đồng nhất giáo hội với hàng giáo sĩ, sự đồng nhất sự thánh thiện với sự vâng lời, sự đồng nhất truyền thống với tập quán, việc đặt nặng lòng sùng tín hơn là chiều sâu tín lý, tất cả những điều đó cho thấy rằng giáo hội ở Việt Nam, tuy đã thay đổi về mặt phụng vụ và cơ cấu bên ngoài, nhưng có vẻ như chưa hấp thụ đầy đủ cuộc cách mạng giáo hội học của Vatican II.

Thật ra giáo hội ở Việt Nam không hẳn là Communio hay Concilium. Có lẽ phải nói rằng giáo hội ở Việt Nam vẫn chưa thực sự đi vào cuộc tranh luận giữa Communio và Concilium, do nền tảng giáo hội-học để đi vào cuộc tranh luận đó vẫn còn quá yếu. Điều này không có nghĩa là giáo hội ở Việt Nam non yếu trong đức tin. Ngược lại, giáo hội ở Việt Nam rất mạnh về lòng sùng tín, về gia đình, về hy sinh, về khả năng chịu đựng, về ký ức tử đạo, về sự gắn bó cộng đoàn. Nhưng giáo hội ở Việt Nam lại yếu trong việc suy tư về chính mình. Nói cách khác, giáo hội ở Việt Nam có thể rất mạnh về đời sống đạo đức, nhưng chưa mạnh về giáo hội-học.

Và vì thế, nhiều người rất dễ hiểu sai Communio. Người ta có thể tưởng rằng Communio chỉ đơn giản là bảo vệ phẩm trật, bảo vệ linh mục, bảo vệ truyền thống, bảo vệ quyền bính. Nhưng thật ra Communio của Ratzinger, de Lubac, Congar không hề giản lược vào điều đó. Một giáo hội Communio đúng nghĩa sẽ đòi hỏi giáo dân được đào tạo tốt hơn, giáo dân ý thức hơn về ơn gọi của mình, bí tích Rửa tội được hiểu sâu hơn, sự tham gia của giáo dân vào sứ mạng của giáo hội được mở rộng hơn, linh mục được hiểu như người cha thiêng liêng hơn là người quản trị, giám mục được hiểu như dấu chỉ hiệp thông hơn là người điều hành, và đời sống giáo xứ bớt lệ thuộc vào một cá nhân. Nói cách khác, Communio thật ra có thể là liều thuốc chữa cho chính căn bệnh giáo sĩ trị của Giáo hội Việt Nam. Nhưng vấn đề là Communio đòi hỏi một nền thần học sâu hơn, một nền giáo lý sâu hơn, một đời sống tri thức sâu hơn.

Và đây có lẽ là điểm còn thiếu. Bởi vì nếu không có nền tảng đó thì những trao đổi về giáo hội rất dễ rơi vào hai cực đoan. Một mặt, người ta có thể nhập khẩu những khẩu hiệu của Concilium – hiệp hành, dân chủ, tham gia, cải tổ – mà không có nền thần học ở phía sau. Khi đó, mọi thứ rất dễ trở thành khẩu hiệu, kỹ thuật quản trị, hay thậm chí là một thứ chính trị nội bộ trong giáo hội. Một mặt khác, người ta có thể bảo vệ phẩm trật, lòng sùng tín, truyền thống, và thẩm quyền mà không có chiều sâu bí tích và hiệp thông ở phía sau. Khi đó, giáo hội rất dễ trở thành một guồng máy giáo sĩ trị được bao phủ bởi ngôn ngữ đạo đức. Và đó là vấn đề.

08.jpg
Ông Trần Thanh Mẫn, Chủ tịch Quốc hội thăm TGM. Hà Nội ngày 5/4/2026. Ảnh: Tgp. Hà Nội

Phải làm lại từ đầu​

Theo tôi, vấn đề lớn nhất của giáo hội ở Việt Nam hôm nay không nằm ở chỗ giáo hội “quá Communio” hay “quá Concilium”. Vấn đề nằm ở chỗ Giáo hội chưa thật sự có đủ ngôn ngữ để hiểu chính mình. Chúng ta vẫn còn thiếu những phân biệt căn bản: giáo hội không đồng nghĩa với hàng giáo sĩ; hiệp thông không đồng nghĩa với vâng lời thụ động; tham dự không đồng nghĩa với hoạt động; truyền thống không đồng nghĩa với tập quán; thẩm quyền không đồng nghĩa với kiểm soát; đời sống giáo dân không đồng nghĩa với giúp cha xứ.

Như đã nói, nếu không giải quyết những nền tảng đó thì mọi cuộc tranh luận về hiệp hành, cải tổ, phân quyền, giáo dân, hay Công đồng Vatican II cuối cùng sẽ chỉ còn là những tranh cãi bề mặt. Và vì thế, có lẽ điều cần thiết nhất không phải là nhập khẩu các cuộc tranh luận thần học từ bên ngoài, mà là bắt đầu lại từ câu hỏi căn bản nhất: giáo hội là gì?

Nếu không trả lời được câu hỏi đó thì giáo hội ở Việt Nam sẽ tiếp tục dao động giữa một bên là thứ giáo sĩ trị “hậu kỳ trung đại”, một bên là những khẩu hiệu hiện đại vay mượn từ nơi khác. Và cả hai đều không đủ. Bởi vì cuối cùng, giáo hội không phải là một guồng máy, cũng không phải là một nghị viện, cũng không phải là một tổ chức xã hội. Giáo hội là hiệp thông. Và phải làm lại từ đầu.

Thay lời kết​

Việc soi rọi giáo hội ở Việt Nam qua lăng kính Communio-Concilium tuy hữu ích vẫn chưa đi đủ sâu vào kinh nghiệm lịch sử của giáo hội ở Việt Nam. Bởi vì Communio và Concilium, như đã nói, là cuộc tranh luận của một giáo hội đã bước vào thời kỳ hậu-Công đồng, đã có đủ chiều sâu thần học, đủ ngôn ngữ giáo hội học, đủ tự do nội tại để tranh luận xem giáo hội nên hiện diện trong thế giới như thế nào. Trong khi đó, giáo hội ở Việt Nam, theo tôi, vẫn còn đang mang rất nhiều bản năng của một “giáo hội sinh tồn”. Trong nhiều thế kỷ, giáo hội ở Việt Nam phải sống trong bối cảnh bách hại, nghi ngờ, chiến tranh, thuộc địa, nghèo đói, thiểu số, và sau đó là sự kiểm soát của nhà nước. Trong một bối cảnh như vậy, việc nhấn mạnh đến sự vâng lời, đến thẩm quyền tập trung, đến vai trò trung tâm của linh mục, đến sự khép kín cộng đoàn, đến sự trung thành với những hình thức cũ, thật ra không phải là điều khó hiểu. Đó là những bản năng giúp giáo hội tồn tại.

Nhưng vấn đề là những cơ cấu được xây dựng để tồn tại thường rất khó trở thành những cơ cấu cho sứ mệnh. Một giáo hội được hình thành trong luận lý sinh tồn rất dễ nhìn giáo dân như lực lượng hậu cần hơn là những chủ thể thần học thật sự; rất dễ đặt nặng sự trung thành hơn là sự trưởng thành; rất dễ xem việc giữ đạo quan trọng hơn việc hiểu đạo; và rất dễ đồng nhất sự ổn định với sự sống động. Có lẽ vì thế mà giáo hội ở Việt Nam hôm nay vừa mang những nét “trung cổ” rất rõ – giáo sĩ trị, lệ thuộc vào cha sở, thiếu đào tạo thần học cho giáo dân – vừa mang những nét rất hiện đại và hậu-Công đồng ở bề mặt. Và vì thế, vấn đề sâu hơn không phải là giáo Hội ở Việt Nam nghiêng về Communio hay Concilium, mà là liệu giáo hội ở Việt Nam có thể chuyển từ một giáo hội sinh tồn sang một giáo hội sứ mệnh hay không, nghĩa là một giáo hội vẫn giữ được căn tính bí tích và chiều sâu thiêng liêng của mình, nhưng đồng thời biết đào tạo giáo dân, biết mở rộng trách nhiệm, biết vượt qua giáo sĩ trị, và biết hiểu giáo hội như một hiệp thông chứ không chỉ như một guồng máy tồn tại.

Theo tôi, chính ở điểm này mà thần học Communio có thể trở nên đặc biệt hữu ích cho giáo hội ở Việt Nam. Không phải vì Communio là một thứ “thần học bảo thủ” nhằm bảo vệ cơ cấu cũ hay củng cố thẩm quyền của hàng giáo sĩ, mà bởi vì nó cung cấp một ngôn ngữ thần học đủ sâu để vượt qua cả hai cực đoan: một bên là giáo sĩ trị mang tính "hậu kỳ trung đại", một bên là những khẩu hiệu cải tổ vay mượn từ bên ngoài nhưng thiếu nền tảng thần học. Communio nhắc rằng giáo hội trước hết là hiệp thông, nghĩa là hiệp thông với Thiên Chúa, hiệp thông trong bí tích Rửa tội, hiệp thông trong Thánh Thể, và từ đó mới là hiệp thông với nhau trong cùng một sứ mệnh. Chính vì thế, Communio có thể giúp giáo hội ở Việt Nam xây dựng một nền giáo hội học sâu hơn, trong đó giáo dân không còn được hiểu chỉ như người “giúp cha”, linh mục không còn được hiểu chỉ như người quản trị, và đời sống giáo xứ không còn xoay quanh sự vận hành của một cơ cấu, mà xoay quanh việc hình thành những con người trưởng thành trong đức tin, có khả năng sống ơn gọi Ki-tô hữu của mình giữa gia đình, xã hội, và lịch sử.​
 

Tủ sách J.H. Newman: Giáo dục khai phóng Công giáo – John Henry Newman và câu hỏi về mục đích của giáo dục

Những năm gần đây, khái niệm “giáo dục khai phóng” xuất hiện ngày càng nhiều trong các cuộc thảo luận về giáo dục tại Việt Nam. Người ta ca ngợi nó như một con đường dẫn tới sáng tạo, tư duy phản biện và năng lực thích ứng trong một thế giới biến động. Đồng thời, người ta cũng phê phán nó như một sản phẩm du nhập từ phương Tây, một mô hình xa lạ với truyền thống văn hóa Việt Nam, thậm chí là một phương tiện truyền tải những giá trị chính trị và xã hội không phù...

Cha Trương Bửu Diệp: Đức Thánh Cha nhắc đến biến cố tuyên phong chân phước

0 lượt xem

Bài viết chờ bạn bình luận

Bên trên